THE SIGHT

CHIA SẺ TẦM NHÌN
 
Trang ChínhTrang Chính  PortalPortal  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Công tử Bạc Liêu

Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Tổng số bài gửi : 179
Join date : 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Công tử Bạc Liêu   Wed Mar 07, 2012 6:33 pm



Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (1900-1973, còn có tên khác là Ba Huy) là một tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940. Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thành ngữ để chỉ những kẻ ăn chơi.

Vốn thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" ra đời từ những năm đầu thế kỷ 20. Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất, đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở vùng đất này. Thời đó dân gian đã có câu "Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Trạch" để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng đất Nam Kỳ. Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí du học bên Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay chơi để thể hiện mình. Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền như các công tử Bạc Liêu. Thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" có từ lúc ấy. Về sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng đối với vị công tử này. Từ đó "Công tử Bạc Liêu" trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể tranh chấp.

Xuất thân

Trần Trinh Huy, tên thật là Trần Trinh Quy sinh ngày 22 tháng 6 năm 1900, nhưng do cho rằng cái tên "Quy" không sang trọng nên ông đổi lại thành "Huy". Ngoài tên Công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Huy còn mang nhiều tên khác như Ba Huy, Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền, sự thật thì Ba Huy không là thành viên trong hội đồng nào), Hắc công tử (do nước da ngăm đen và để phân biệt với Bạch công tử).

Trần Trinh Huy là con trai ông Trần Trinh Trạch, tức Hội Đồng Trạch[2] một người xuất thân là thư ký làng, nhờ cưới được cô Tư, con gái của ông bá hộ Phan Văn Bì, người có đất ruông nhiều nhất trong tỉnh Bạc Liêu, người ta tặng cho ông Bá hộ là "Vua lúa gạo Nam Kỳ". Ông Trạch là người Triều Châu lai, chí thú làm ãn.[3] Ông Bá hộ chọn rể cho cô con gái thứ Tư trong trường hợp đặc biệt. Hằng năm ông tới Tòa Bố (tòa Hành chánh) tỉnh đóng thuế điền địa. Trong nhiều năm ông chấm viên thư ký điền địa tên Trần Trinh Trạch là người đứng đắn đàng hoàng. Ông hỏi thăm gia thế thì biết thầy ký Trạch chưa vợ. Ông mời về nhà chơi, tạo thuận lợi cho thầy ký Trạch trông thấy cô con gái thứ tư của ông. Nhiều lần tới lui, hai bên "mến tay mến chân". Ông Bá hộ thấy hai đứa nhỏ "tình trong như đã mặt ngoài còn e" liền làm lễ cưới. Ông cho con gái và rể một sở đất để ra riêng. Thầy ký Trạch xin nghỉ làm công chức điền địa để làm chủ điền. Với trình độ văn hóa tương đối khá, lại có ông già vợ cho đất, giúp vốn nên không bao lâu thầy kỳ Trạch phất lên. Với huê lợi hàng năm, ông sắm thêm đất điền. Có điều ông Bá hộ không thích là đất ông tách bộ cho các con của ông lần lượt chạy về tay chàng rể thứ tư. Nguyên do là các con ông mê cờ bạc nên đem đất điền cầm cố nơi anh rể. Cầm cố lâu năm không chuộc kể như mất luôn. Ông Bá hộ chỉ tự an ủi là "lọt sàng xuống nia", các sở đất đó không rơi vào người ngoài, thương con gái thì phải thương rể. Nhờ vậy, Hội Đồng Trạch càng ngày càng giàu có, đồn điền ruộng lúa có thể được xếp vào hàng bậc nhất miền Nam lúc bấy giờ. Có người viết:
Nghèo đến thằng mình còn chạy quýnh
Giàu như ông Trạch cũng buồn thiu

Trần Trinh Trạch là chủ sở hữu của 74 sở điền, với 110.000 ha đất trồng lúa, gần 100.000 ha ruộng muối. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc Liêu lúc bấy giờ (gồm 4 quận Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai) có 13 lô ruộng muối thì 11 lô là của ông Hội Đồng Trạch, một lô còn lại của cha sở và một lô của dân thường. Ông Trạch có 7 người con, 4 gái, 3 trai. Trong 3 người con trai của ông Trạch (Trần Trinh Đinh, Trần Trinh Huy và Trần Trinh Khương) thì Ba Huy là ăn chơi hơn cả.

Con người

Trần Trinh Huy từng đi du học ở Pháp, sau ba năm về nước không một mảnh bằng, để lại một người vợ Pháp và một đứa con ở lại Paris. Khi Ba Huy về nước ông Trạch kéo gia đình lên Sài Gòn đón quí tử. Chiếc xe Ford đang dùng tốt nhưng ông nói nhân sự kiện đặc biệt này phải sắm thêm một chiếc xe mới, cho xứng với học hàm, học vị của cậu Ba, cho rạng mặt Trần gia.

Trần Trinh Huy là người cao lớn, khoảng 1,70 m, lực lưỡng nhưng không cục mịch, trái lại dáng người rất thanh thoát, sang trọng, da đen, mày rậm... người đầy sinh lực. Tính tình Huy rất dễ dãi và hào phóng. Người trong nhà lầm lỗi, Huy cũng ít rầy la. Bà con ở xa lên thăm, Huy đều cho tiền. Tá điền không thấy Huy đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn nỉ Huy còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền Bàu Sàng ít ai oán ghét Ba Huy.

Trong các mối quan hệ, Ba Huy là người khoáng đạt, không dè dặt và mưu toan gì. Thời đó, các cậu công tử lẫn điền chủ điều chơi với người Pháp thì rất khúm núm, nịnh nọt, gọi là "chơi thế". Riêng Ba Huy thì cứ "toa toa" "moa moa"[4] sòng phẳng, ngang hàng. Nếu như trong mắt giới giang hồ tứ chiếng, Ba Huy là một người ngon nhất Nam bộ, thì trong mắt người Pháp, Huy được nể trọng vì có vợ đầm và mướn người Pháp làm công cho mình. Tánh của Ba Huy vị tha và coi tiền như rơm rác. Bút tích của Huy cho thấy tuy nét chữ bay bướm nhưng lại rất xấu, chứng tỏ đó là một con người thông minh, từng trải nhưng đường học vấn không đến nơi đến chốn.

Ba Huy cũng là người rất cởi mở, không cổ hủ, cực đoan như nhiều điền chủ khác. Ông từng ủng hộ Việt Minh một lúc 13.000 giạ lúa. Công tử Bạc Liêu còn tỏ ra là một con người tự trọng, đã hứa với Chính phủ những gì thì ông sẽ làm thế ấy. Ông đã hứa với người lãnh đạo cao nhất của Tỉnh ủy Bạc Liêu là giảm tô, không hợp tác với Pháp, gửi vải vóc thuốc men cho kháng chiến và thực hiện đúng như vậy. Thích hội hè, Ba Huy có lẽ là người tổ chức hội chợ và hội thi "Hoa hậu miệt đồng" đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long.

Ba Huy có bốn người vợ và rất nhiều nhân tình. Người vợ đầu là người Pháp, trong thời gian Ba Huy đi học ở Paris. Về nước ông cưới một người vợ ở Bạc Liêu là Ngô Thị Đen. Bà này ở với Ba Huy sinh được người con gái là cô Hai Lưỡng. Sau cô Hai Lưỡng qua Pháp sống. Từ năm 1945, Ba Huy lên Sài Gòn ở hẳn. Ông lấy thêm một bà nữa (bà Nguyễn Thị Hai) và sinh được ba người con: Thảo, Nhơn, và Đức.
Bà cuối cùng, khoảng năm 1968, Ba Huy dọn về căn nhà phố đường Nguyễn Du, Sài Gòn. Mỗi sáng đứng trên lầu nhìn xuống, ông thấy một cô gái gánh nước đi qua đẹp quá. Hỏi thăm thì đựơc biết cô gái đó là con ông già làm nghề sửa xe đạp. Ba Huy đến nhà ông già xin "đổi" căn nhà đó lấy cô gái. Ông già và cô gái sau khi bàn bạc đồng ý. Và đó là người vợ cuối cùng của Ba Huy, kém ông đến 50 tuổi. Bà sống chung thủy với ông đến ngày ông qua đời. Họ có ba con trai và một con gái tên Hoàn, Toàn, Trinh và Nữ.

Ba Huy còn rất nhiều con với các nhân tình. Tuy những người đó không phải vợ chính thức nhưng con cái của họ đều được Trần gia thừa nhận. Ông mất năm 1973 ở Sài Gòn và được đưa về an táng trong phần mộ gia đình tại ấp Cái Dầy, xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.

Những giai thoại

Thú chơi xe
Ông Trạch giao cho Ba Huy việc trông coi điền sản. Huy đi vào các sở điền bằng xe hơi hoặc ca nô. Việc này là một sự kiện đặc biệt, Ba Huy đi đến đâu tá điền ùn ùn kéo đến xem, vì cả đời họ chưa được nhìn thấy xe hơi, ca nô bao giờ. Đi đòi nợ các tỉnh, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe đó cả miền Nam khi ấy chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại.

Thuê người Pháp làm công
Ba Huy còn thuê một người Pháp làm công cho mình. Đó là ông Henri, chồng bà Tư Nhớt, một người trong gia tộc Trần Trinh. Ông này làm quản lý, điều hành gia sản cho ông Hội Đồng Trạch, dưới quyền ba Huy. Theo hợp đồng, quản lý được hưỏng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm. Chính vì vậy ông Henri mới bỏ "mẫu quốc" qua làm mướn cho bên vợ, mãi đến tháng 4 năm 1975 mới về nước.

Thú mê võ
Công tử Bạc Liêu rất mê nghề võ. Vào nửa đầu thế kỷ 20, học võ là một cái mốt với nhận thức: Học võ để nâng cao cái khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Ba Huy không học võ Tây hay võ Ta mà học võ Xiêm. Ông ta đã cất công qua Xiêm mướn một ông thầy thượng hạng về dạy cho mình và Tám Bò, là em út của ông ta.

Người Việt đầu tiên sở hữu máy bay
Một sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Và lúc ấy cả Việt Nam cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu[5] và của vua Bảo Đại. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt biết mình đã bay lọt sang tận nước Xiêm. Trần Trinh Huy bị Nhà nước Xiêm bắt giữ và phạt 200 ngàn giạ lúa. Ông Hội đồng Trạch phải chở một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Xiêm để chuộc quí tử về. Ông là người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân.

Thú vui di chuyển
Ba Huy sinh hoạt cực kỳ sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston, thứ hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự của Trần gia mà vào một trong những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại chở những món đồ như mũ, cây "can"...
Công tử Bạc Liêu là một người luôn xê dịch và rất ham vui, những cuộc ăn chơi nổ trời diễn ra, Trần Trinh Huy lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm banh. Mỗi chủ nhật ông đều đi nghỉ cuối tuần ở Vũng Tàu, Đà Lạt hoặc về Cần Thơ. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ[7], lương của Thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.

Giao tranh Hắc - Bạch công tử
Bạch công tử là Lê Công Phước hay còn gọi là George Phước, con trai của Đốc phủ Lê Công Sủng[8], người ở làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho. Phước cũng là một tay chơi nổi tiếng khi đó, da trắng nên được gọi Bạch công tử để phân biệt với Ba Huy. George Phước say mê cải lương, từng qua Pháp học về sân khấu. Về nước Phước cùng một người khác bỏ tiền lập hai gánh hát Phước Chương và Huỳnh Kỳ nổi tiếng với cô đào chánh đệ nhất tài sắc đương thời là cô Bảy Phùng Há và một cô đào tài sắc khác là Năm Phỉ. Cùng nổi tiếng ăn chơi, Bạch công tử và Hắc công tử trở thành kỳ phùng địch thủ.
Tác giả Nguyễn Thiện viết:

"Đang lúc cô Ba Trà, một người con gái có sắc đẹp làm xao xuyến tâm hồn Bạch công tử, thua bài sạch túi, ông trưởng giả lớn tuổi chưa kịp cung phụng tiền bạc tiếp để vừa lòng mỹ nhân, Bạch Công tử lù lù lái xe lại nhà cô Ba Trà, rủ xuống Cần Thơ ăn cá cháy và đánh bài gỡ bạc.
Hai người vừa xuống đến quán Bungalows ở Cần Thơ, máy xe chưa nguội thì chiếc Sport tám máy của Hắc Công Tử cũng vừa tới, thắng cái két. Cả hai lâm vào cảnh khó xử, việc chiếm được mỹ nhân chỉ còn cậy vào tài chinh phục của bản thân mình. Cả ba cùng đưa nhau vào khách sạn. Bạch Công tử lột chiếc cà rá hột xoàn trị giá 3.000 đồng vào thời đó để trên bàn trước khi vào phòng tắm. Lúc trở ra, thấy cô Ba Trà đeo thử nó trên tay, Bạch Công tử liền lên tiếng tặng luôn. Sau đó Hắc Công tử đã mua tặng cô Ba Trà một chiếc nhẫn trị giá gấp đôi..."

Một lần, đoàn Huỳnh Kỳ cùng cô Bảy Phùng Há về Bạc Liêu biểu diễn, Bạch công tử mời Hắc công tử đến xem. Đang xem, Bạch công tử móc thuốc hút, vô ý làm rớt tờ giấy con công (tờ 5 đồng thời đó), Bạch công tử cuối xuống tìm kiếm. Hắc công tử thấy vậy hỏi:
- Chú kiếm gì vậy?
- Tôi kiếm tờ con công. (Tờ bạc 5 đồng)
Hắc công tử mỉm cười nói:
- Để tôi đốt đuốc cho chú kiếm.
Nói rồi Hắc công tử móc tờ giấy bạc bộ lư (tờ 100 đồng) châm lửa soi cho Bạch công tử kiếm[10]. Bị một vố quá nặng, vãn tuồng, Bạch công tử mới nói:
- Toa chơi moa một cú đau quá. Bây giờ nếu toa ngon, toa với moa cân mỗi người ký đậu xanh, rồi lấy tiền nấu, ai sôi trước người ấy thắng?
Hắc Công Tử đáp:
- Chú cũng vậy nữa kìa! Ấy dà, Chú muốn chơi hả? Được,vậy để tôi chơi cho chú chết luôn!
Tối hôm sau, Hắc công tử cho trải thảm đỏ từ ngoài cổng vào tận thềm nhà cứ mỗi thước cho một gia nhân cầm đuốc soi đường, nghinh đón phái đoàn của Bạch công tử. Cuộc thi được tổ chức ở đại sảnh nhà lớn của Trần gia. Lửa của tiền giấy thì rất kém nhiệt, chỉ cháy nhỏ, vì thế họ nấu chè rất lâu trong sự căng thẳng của rất nhiều người chứng kiến. Trán ai cũng rịn mồ hôi hột, nhất là những người trong gia đình họ Trần. Cuối cùng, nồi chè Bạch công tử sôi trước, Hắc công tử đành thua cuộc. Nhưng Ba Huy tuyên bố rằng ông ta thua trong danh dự.

Theo Wikipedia ('http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_t%E1%BB%AD_B%E1%BA%A1c_Li%C3%AAu')

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi : 179
Join date : 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Công tử Bạc Liêu - Part 2   Wed Mar 07, 2012 6:34 pm

4 đời Công tử Bạc Liêu và một kết cục bi đát

Vào năm 1895, tại Bạc Liêu có một đám cưới giữa một bên là thầy ký quèn mang họ Trần Trinh và một bên là con gái của ông bá hộ trong vùng. Nhờ đám cưới “một bên có tiền, một bên có tài” ấy mà sau này đất Bạc Liêu có ông hội đồng Trạch giàu có nhất “Nam kỳ lục tỉnh”. Để rồi sau đó nữa, đất Bạc Liêu có thêm một người được xếp vào loại “ăn chơi phóng túng nhất mọi thời đại” ở phương Nam, đó chính là Công tử Bạc Liêu.

Chuyện tình thầy ký Trạch


Một ngày cuối năm 1895, tại xã Châu Hưng - huyện Vĩnh Lợi – tỉnh Bạc Liêu, diễn ra lễ cưới của cô con gái thứ tư của ông bá hộ Phan Văn Bì, một người giàu có nhất nhì tỉnh Bạc Liêu. Tuy là nhà bá hộ, nhưng đám cưới tổ chức không lớn lắm, vì là đám gả con gái, chú rể lại là một thầy ký quèn. Sinh ra trong gia đình nghèo từ miệt Biên Hòa – Đồng Nai trôi dạt về Bạc Liêu khai khẩn đất hoang, khi mới 12 – 13 tuổi đầu Trần Trinh Trạch (SN 1873) phải đi làm mướn cho một gia đình địa chủ đã nhập quốc tịch Pháp.

Chính cái “nghề” đi làm mướn đã là duyên cớ đưa ông trở thành một trong những người giàu nhất Nam kỳ sau này. Theo qui định thời đó, con cái của những gia đình có quốc tịch Pháp phải đi học trường Pháp. Mà các “cậu ấm” trong gia đình ấy chỉ muốn chơi chứ không chịu học, vậy là ông Trạch được mướn đi học thế cho con của chủ nhà. Nhờ vậy mà ông biết chữ (tất nhiên là chữ Tây), để rồi sau này khi lớn lên ông xin được một chân thư ký ở Tòa Bố tỉnh Bạc Liêu.

Một năm hai lần, ông bá hộ Phan Văn Bì đến Tòa Bố tỉnh Bạc Liêu để làm thủ tục đóng thuế điền địa. Ông được viên thư ký điền địa Trần Trinh Trạch tận tình giúp đỡ. Lâu dần, ông Bì có cảm tình với anh thư ký quèn. Các con ông Bì giỏi ăn chơi, nhưng ít học, vì vậy ông thấy quý học thức ở người thư ký.

Một vài lần thư ký Trạch đến đo đạc ruộng đất nhà ông bá hộ, chính ông Bì đã chủ động cho viên thư ký gặp cô con gái thứ tư của mình. Và khi ông Bì nhận ra giữa hai trẻ “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”, ông liền chủ động sắp xếp một cuộc hôn nhân. Sau đám cưới, vợ chồng thư ký Trạch được ông bá hộ cắt chia cho một sở đất riêng cả trăm ha và giúp vốn làm ăn, ông Trạch bỏ nghề “thầy ký” để ở nhà tập trung vào ruộng đất.

Nhờ kiến thức đã có, nhất là hiểu biết về luật pháp đất đai, cộng với vốn liếng cha vợ giúp đỡ, ông Trạch ngày càng tích tụ ruộng đất bằng cách thu mua đất đai của những địa chủ thất cơ lỡ vận. Ngay cả trong gia đình ông bá hộ Bì, hầu hết ruộng đất ông đều chia cho các con, nhưng do ít học, không biết làm ăn, lại máu mê cờ bạc, nên dần dà ruộng đất của họ đều được cầm cố và rơi vào tay ông Trạch.

Từ ruộng đất, ông mở mang sang lĩnh vực làm muối và trở thành nhà cung cấp chi phối muối cho cả Nam kỳ, cũng chính nhờ đó ông đã phất lên nhanh, được xếp vào hàng “đại phú” bậc nhất miền Nam. Lúc cao nhất, Trần Trinh Trạch chủ sở hữu 74 sở điền với 110 ngàn ha đất trồng lúa và gần 100 ngàn ha ruộng muối.

Rồi ông bước sang kinh doanh lãnh vực nhà ở với hai dãy phố lầu ở thị xã Bạc Liêu, một dãy phố lầu ở đường La Grandière ở Sài Gòn (nay là đường Lý Tự Trọng). Ông bỏ vốn đầu tư sang lĩnh vực ngân hàng và trở đồng sáng lập Ngân hàng Việt Nam (năm 1927) - ngân hàng đầu tiên do chính người Việt Nam sáng lập và điều hành - có trụ sở đặt tại Sài Gòn, do ông làm Chánh hội trưởng.

Tuy là “đại phú”, nhưng vợ chồng hội đồng Trạch sống rất chuẩn mực, cần kiệm, nhất là bà hội đồng, bà ít khi đụng đến thịt cá hoặc các món cao lương mỹ vị, cả đời chỉ quen với mắm muối đồng quê.


Ba Đức trước biệt thự Công tử Bạc Liêu

Ông Trạch có 7 người con, 4 gái, 3 trai. Trong 3 người con trai của ông Trạch, Trần Trinh Huy (Ba Huy) là có học và bản lĩnh hơn cả, được ông hội đồng chọn làm người kế nghiệp. Một sự lựa chọn làm ông Trạch rất đỗi tự hào khi ấy, nhưng cũng là sự lựa chọn tệ hại nhất cuộc đời ông, chính sự lựa chọn ấy đã làm cho sản nghiệp mà ông dày công gầy dựng đã nhanh chóng bị đổ sông đổ bể.

Ông Trạch sống rất chung thủy với vợ con, cả đời ông chỉ có một bà vợ, ngược hẳn với cậu con trai “quý tử” Trần Trinh Huy sau này ăn chơi bạt mạng, nổi danh khắp Nam kỳ, để lại danh xưng “Công tử Bạc Liêu” sau khi đã tiêu phá gần hết gia sản của cha.

Tình sử “cậu Ba Huy”

Cuối năm 1926, có một chuyện làm cho ông hội đồng Trạch và cả gia tộc Trần Trinh xôn xao lo toan, đó là cậu Ba Huy đi “Tây học” trở về. Để đón con từ sân bay Tân Sơn Nhất về Bạc Liêu, ông Trạch đã bỏ ra số tiền lớn để mua chiếc xe hơi hiệu Peugeot lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Trước đó, ông Trạch cũng đã xây dựng khu biệt thự theo kiểu Tây lớn nhất tỉnh Bạc Liêu với hầu hết vật liệu trang trí đều được chở từ Pháp sang. Trần Trinh Huy sinh năm 1900, từ nhỏ đã tỏ ra khôn lanh, ham chơi nhất nhà.

Lúc ấy bắt đầu có phong trào những gia đình giàu có cho con đi du học ở Pháp. Trần Trinh Huy đã được ông hội đồng Trạch chọn đi “Tây học” với kỳ vọng làm cho dòng họ Trần Trinh “nở mặt nở mày”. Vì vậy mà việc cậu “quý tử” trở về Bạc Liêu sau 5 – 6 năm du học bên Pháp thật sự là sự kiện trọng đại đối với gia tộc Trần Trinh.

Thế nhưng, ông hội đồng Trạch không hề biết rằng, sau 5 – 6 năm trời tiêu phí hàng trăm ngàn giạ lúa của ông, cậu Ba Huy không lấy nỗi bất kỳ tấm bằng giáo dục nào, ngoài bằng lái xe hơi và giấy xác nhận có học lái máy bay, cùng người vợ đầm và đứa con lai Pháp. Ngay tại đất Paris, Ba Huy đã trở thành tay chơi có hạng. Ngày về nước, cậu Ba Huy đã tự tay lái xe chở ông hội đồng Trạch vượt quãng đường gần 300 cây số về nhà với tốc độ gần 100 cây số giờ. Ba Huy khoe với cha rằng mình biết lái cả máy bay.

Những chuyện “tai nghe mắt thấy” ấy cùng với phong cách lịch lãm, sành đời của Ba Huy đã làm ông hội đồng Trạch đinh ninh rằng còn mình đã là “thiên tài”. Ông tổ chức tiệc thật lớn mừng Ba Huy về nước, mời hàng ngàn khách gồm quan chức, giới nhà giàu khắp “lục tỉnh”, bà con gần xa, kể cả những tá điền thân tín.

Trở về Việt Nam, bỏ lại bên Pháp người vợ đầm và đứa con lai, Ba Huy cưới ngay người con gái đẹp nhất xứ Bạc Liêu lúc bấy giờ, đó là bà Ngô Thị Đen. Bà Đen ở với Ba Huy sinh được người con gái đặt tên Trần Thị Lưỡng. Về sau cô Hai Lưỡng qua Pháp sống và không còn ai biết gì thêm về cô. Thường xuyên đi lại giữa Sài Gòn và Bạc Liêu, Ba Huy đã có tiếp “bến đỗ” ở Mỹ Tho, được gia đình cưới hỏi đàng hoàng, đó là bà Nguyễn Thị Hai. Bà Hai sinh được ba người con là Trần Thị Thảo, Trần Trinh Nhơn và Trần Trinh Đức.

Về cuối đời, khoảng thập niên 1960, Ba Huy về sống trong căn nhà phố trên đường Nguyễn Du, Sài Gòn. Một buổi sáng, khi tập thể dục trên sân thượng, bất chợt nhìn xuống đường, ông thấy một cô gái gánh nước mướn đi ngang trước nhà rất đẹp. Hỏi thăm, Ba Huy biết được cô gái đó là con một gia đình nghèo làm nghề sửa xe đạp ở cuối đường.

Giai thoại kể rằng, Ba Huy đã tìm đến ngôi nhà nói trên gặp cha cô gái để xin "đổi" căn nhà mình đang ở để được cưới cô gái làm vợ. Và đó là người vợ cuối cùng của Ba Huy, kém ông gần 50 tuổi. Bà đã sống với ông Ba Huy cho đến ngày ông qua đời ở tuổi 73 và đã sinh cho ông bốn người con tên Hoàn, Toàn, Trinh và Nữ.


Ba Đức trước bàn thờ hội đồng Trạch trong khách sạn “Công tử Bạc Liêu”

Ngoài người vợ Pháp và 3 người vợ Việt có cưới hỏi chính thức, Ba Huy còn có rất nhiều người tình, nhiều người trong họ đã có con với ông. Dù họ không phải là vợ được cưới hỏi đàng hoàng, nhưng con cái của họ đều được ông hội đồng Trạch (lúc còn sống) cũng như gia tộc Trần Trinh sau này thừa nhận. Trần Trinh Huy mất năm 1973 ở Sài Gòn và được đưa về an táng trong phần mộ gia đình tại ấp Cái Dầy, xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.

Dù đã có tới 4 bà vợ với 9 người con chính thức, cùng hàng chục người tình với nhiều đứa con rơi, nhưng hầu hết họ đều đã định cư đâu đó ở nước ngoài hoặc thất lạc, nghèo khó đâu đó ở trong nước. Nhiều năm liền, không có người con nào đến ngày Thanh Minh về quét dọn khu mộ chôn hội đồng Trạch, Ba Huy và dòng họ Trần Trinh, vì vậy mà khu mộ của một gia tộc từng giàu có nhất nhì miền Nam suốt thời gian dài bị bỏ hoang phế.

Mãi gần đây mới có một người con của Ba Huy trở về cố hương sau khi giống như cha hoang phí hết gia sản và bị cuộc đời đẩy đến tận cùng nghèo khó ở đất Sài Gòn. Ông tên Trần Trinh Đức, ông trở về Bạc Liêu với vợ và một đứa con bị bệnh tâm thần.

Công tử Bạc Liêu

Sự phong lưu vô độ trên con đường tình ái làm nên danh tiếng “cậu Ba Huy Bạc Liêu”. Còn sự ăn chơi bạt mạng, đầy tính cách “đàn anh” đã để lại cho Ba Huy cái tên “Công tử Bạc Liêu” lưu danh đến ngày nay. Lớn lên trên “đống vàng”, hầu như muốn thứ gì cũng được đáp ứng, lại được “học tập” kiểu cách ăn chơi ở chốn Paris tráng lệ, Ba Huy đã “biểu diễn” những màn ăn chơi làm tất cả dân chơi Nam kỳ thời ấy đều bái phục.

Ông hội đồng Trạch giao cho Ba Huy trông coi việc điền sản. Ba Huy mướn ngay một người Pháp tên Henry giỏi quản lý về Bạc Liêu cai quản việc làm ăn của gia đình, còn mình thì tập trung vào các thú vui chơi. Theo hợp đồng, người quản lý được hưỏng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm. Chính vì được trả công hậu hĩnh, ông Henri đã bỏ quê hương "mẫu quốc" qua làm mướn cho Ba Huy, mãi đến tháng 4 năm 1975 mới về nước. Thỉnh thoảng đi thăm các sở điền, Ba Huy mặc veston đi xe hơi. Ông sắm cả ca nô để lướt sóng trên các sông rạch miền Tây vốn chỉ toàn xuồng chèo tay.

Khi đi thăm ruộng, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, loại xe lúc đó cả miền Nam chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của Vua Bảo Đại. Vào thập niên 1930 – 1940, hễ Vua Bảo Đại có thứ gì thì Ba Huy phải sắm cho bằng được thứ ấy, kể cả máy bay. Ba Huy đã làm chấn động dư luận cả nước lúc đó khi đi thăm ruộng bằng máy bay. Lúc ấy cả Việt Nam mới chỉ có hai chiếc máy bay dân sự, một của Vua Bảo Đại, chiếc kia là của Ba Huy.

Một lần tự lái máy bay qua thăm sở điền ở tỉnh Rạch Giá, Ba Huy hứng chí bay ra biển Hà Tiên “hóng mát”, để rồi lạc sang tận nước Xiêm, phải đáp khẩn cấp vì máy bay hết xăng. Trần Trinh Huy bị Nhà nước Xiêm tạm giữ và phạt về tội xâm nhập lãnh thổ trái phép số tiền tương đương 200 ngàn giạ lúa.

Nhưng, chơi ngông tới mức đốt tiền để có ánh sáng và đốt tiền nấu chè đậu xanh như Ba Huy thì không chỉ nước ta, mà cả “Đông Tây kim cổ” chưa từng có ai làm, chính nó đã để lại cái tên “Công tử Bạc Liêu” cho tới ngày nay. Thuở ấy ở Mỹ Tho có cậu công tử nhà giàu, đẹp trai, tên Lê Công Phước hay còn gọi là George Phước, con trai của Đốc phủ Lê Công Sủng. George Phước cũng là một tay chơi nổi tiếng lúc đó, nhờ có nước da trắng như Tây nên được gọi “Bạch công tử”, để phân biệt với Ba Huy từ lâu nổi danh là “Hắc công tử” (do có nước da sạm đen).

George Phước rất mê cải lương, đã đi du học bên Pháp về nghệ thuật sân khấu, rồi bỏ tiền lập hai gánh hát Phước Chương và Huỳnh Kỳ nổi tiếng. Thời ấy ở đất Nam bộ ai cũng mến mộ tài năng, sắc đẹp của hai cô đào cải lương là Phùng Há và Năm Phỉ. Cả Bạch công tử và Hắc công tử đều mê các cô đào này, nên trở thành kỳ phùng địch thủ của nhau. Một lần, đoàn Huỳnh Kỳ cùng cô đào Phùng Há về biểu diễn ở Bạc Liêu, Bạch công tử mời Hắc công tử đến xem để khoe gánh hát của mình. Hai đối thủ ngồi cạnh nhau trong rạp hát như hai người bạn tri kỷ, cùng chiêm ngưỡng cô đào Phùng Há trên sân khấu mà ai cũng quyết tâm chinh phục cho bằng được.

Đang xem hát, Bạch công tử móc túi lấy thuốc hút, vô ý làm rơi tờ giấy bạc hình con công (tờ 5 đồng thời đó), Bạch công tử cuối xuống tìm, nhưng do trong rạp tắt đèn, nên tìm không được. Bản tính chơi trội học được trên các nẻo đường ăn chơi đã giúp Hắc công tử nghĩ ra một “đòn” tuyệt vời để hạ gục đối thủ. Hắc công tử lặng lẽ móc tờ giấy bạc bộ lư (tờ 100 đồng) châm lửa đốt làm đuốc soi cho Bạch công tử tìm tờ giấy bạc 5 đồng bị rớt mất.

Bị một vố quá nặng, để gỡ gạc chút thể diện, Bạch công tử đã thách Hắc công tử thi đốt tiền nấu chè đậu xanh. Hắc công tử nhận lời và chủ ý để thua, vì chuyện thi thố này chủ yếu là nhờ vào tài “chụm lửa” chứ không chứng tỏ gì sự giàu có hay bản lĩnh dân chơi.

Để xứng danh “Công tử Bạc Liêu”, tất nhiên Trần Trinh Huy cũng không thể bỏ qua hai món nhậu nhẹt và bài bạc. Ba Huy thường xuyên lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm banh vốn rất thịnh hành vào thời đó. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, thường đánh bạc với “quốc trưởng” Bảo Đại và trùm sòng bạc Đại Thế Giới là Bảy Viễn.

Có những ngày ông thua bạc 30 – 40 ngàn đồng, trong khi một giạ lúa chỉ bán được 1,7 đồng, lương của Thống đốc Nam kỳ chưa tới ba ngàn đồng một tháng. Công bằng mà nói, ngoài chuyện ăn chơi trác táng, đập phá vô độ, Công tử Bạc Liêu có sức hấp dẫn người đời có lẽ còn ở tính tình hào phóng, quan hệ thân thiện với mọi người không kể sang hèn.

Ông thường xóa nợ, xé giấy nợ cho tá điền hoặc những đối tác làm ăn gặp khó khăn như một cách để “tích đức” cho con cháu về sau. Đôi lúc ở ông cũng lóe lên “đầu óc canh tân” như mướn người Pháp giỏi về cai quản cơ ngơi; tổ chức hội chợ đồng bằng và cuộc thi “Hoa hậu miệt đồng” đầu tiên ở miền Tây (để rồi các hoa, á hậu đều thuộc về ông)...

Không giống như cha mình, từ một mối tình mà làm nên sự nghiệp, Công tử Bạc Liêu có hàng chục, hàng trăm mối tình, mà mối tình nào cũng gặm nhắm một phần gia sản của cha để lại. Đến đời con ông cũng vậy – ăn chơi phóng túng, tàn phá gia sản của cha ông để lại. Để đến đời cháu nội của Công tử Bạc Liêu thì chẳng còn gì để mà phá. Chẳng những thế, người cháu nội thừa kế Công tử Bạc Liêu trở nên điên loạn sau một cuộc tình.

Hổ phụ sinh hổ tử

Người viết bài này đã có một buổi tối ngồi nhậu với ông Trần Trinh Đức, người được coi là gắn bó nhiều nhất với cha Trần Trinh Huy và đang là đứa con duy nhất của Công tử Bạc Liêu còn sống trên quê hương Bạc Liêu, là người kế thừa chính thức của gia tộc Trần Trinh.

Cũng giống như cha, Ba Đức (sinh năm 1947) sinh ra trên đống vàng, lớn lên không cần học hành gì nhiều, cứ theo “gương” cha mà ăn chơi, yêu đương, phá phách. Thế nhưng cả về khoản hào hoa lẫn phá phách tiền của, Ba Đức chỉ xứng đáng là…”con” của Công tử Bạc Liêu. Dù vậy thì “thành tích” của Ba Đức cũng không đến nỗi nào: hai bà vợ cùng hàng chục người tình; nhậu nhẹt không thua ai; từng đánh bạc có hạng; nhảy đầm bậc thầy…

Thế nhưng, ông Đức cho biết, ông không là gì so với người anh kế của mình là Trần Trinh Nhơn, chính ông Nhơn mới gần với nguyên mẫu của Công tử Bạc Liêu hơn. Khi hai anh em còn sống chung nhau, cứ mỗi chiều là ông Nhơn dẫn về nhà một cô gái xinh đẹp khác nhau giới thiệu với ông Đức: “Chị dâu mày”. Hiện ông Nhơn cũng sống ẩn dật nghèo túng đâu đó, lâu lắm rồi không thấy về quê hương Bạc Liêu.


Tác giả và Ba Đức

Công tử Bạc Liêu mất năm 1973, sau khi hoang phí gần hết gia sản, chỉ để lại cho các con mấy căn phố lầu. Đến lượt các con ông cũng tiêu xài phung phí, nhà cửa cứ bán dần. Ông Đức nhớ lại, đến cuối thập niên 1970, các anh em của ông (con của các bà vợ của Công tử Bạc Liêu) quyết định bán căn nhà cuối cùng với giá 28 lượng vàng, mỗi người chia nhau một ít rồi ly tán, tự tìm đường mưu sinh riêng, chính thức kết thúc sự giàu có kéo dài chưa tới ba đời của dòng tộc hội đồng Trần Trinh Trạch.

Cầm vài cây vàng được chia từ phần tài sản cuối cùng còn lại của Công tử Bạc Liêu, ông Đức về sống nhờ bên gia đình vợ. Ông trở thành tay “chạy chợ” ở khu chợ trời Huỳnh Thúc Kháng, rồi chuyển sang mua bán đồ điện tử lấy của thuỷ thủ tàu viễn dương mang về. Không trở lại giàu có, nhưng gia đình ông cũng vượt qua được giai đoạn khó khăn.

Thế nhưng, có thể do “cha ăn mặn con khát nước”, chuyện tình đầy nước mắt của đứa con gái ông đã làm cho gia đình ông trở nên bần cùng, phải trôi dạt kiếm sống tận Campuchia, rồi quay về Sài Gòn chạy xe ôm, trước khi về Bạc Liêu để làm nhân chứng sống cho sự kết thúc một dòng tộc từng làm nổi đình nổi đám đất Nam bộ gần suốt một thế kỷ.

Chuyện tình cuối cùng

Ông Ba Đức kể, vào giữa năm 2010, ông về Bạc Liêu nhân ngày giỗ cha – Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy. Lúc đó, ông đang sống nghèo khó ở TP.HCM bằng nghề chạy xe ôm cùng vợ và đứa con bị bệnh tâm thần. Mấy ngày ở Bạc Liêu, ông thường đến uống cà phê tại khách sạn Công tử Bạc Liêu, ngôi nhà mà ông nội ông đã xây dựng năm 1919, là nơi cha ông sinh ra và lớn lên, cũng là nơi ông trải qua quảng đời thơ ấu trong nhung lụa.

Một buổi sáng, tình cờ ngồi uống cà phê với nhiều người, Ba Đức kể về cuộc sống không chốn nương thân của mình ở TP.HCM, một người chủ doanh nghiệp đã khuyên ông trở về cố hương với câu “Không lẽ Bạc Liêu bỏ anh!”. Không chút so đo, Ba Đức cùng vợ con rời TP.HCM trở về nơi hơn 50 năm trước ông đã ra đi. Ngày ra đi, ông là một “cậu ấm” có xe riêng đưa đón, kẻ hầu người hạ. Ngày trở về, tài sản đáng giá nhất của ông là chiếc xe gắn máy cà tàng.

Tất nhiên, ông không về sống trong ngôi biệt thự vì nó đã được quốc hữu hóa trước ngày giải phóng. Qua bao biến thiên thời cuộc, biệt thự Công tử Bạc Liêu vẫn nguyên vẹn, đẹp lộng lẫy với các vật liệu xây dựng, trang trí đều từ Pháp chở qua.

Vẫn là sáu phòng ngủ sang trọng được kinh doanh khách sạn, trong đó căn phòng Ba Huy từng ở có giá cho thuê cao gấp đôi các phòng còn lại. Người chủ doanh nghiệp đã cho gia đình ông mượn tạm căn hộ tập thể trong hẻm sâu để sống, trong khi chờ đợi “xin nhà” và tìm công ăn việc làm.


Cô gái “điên” Trần Thị Phượng – người thừa kế cuối cùng của Công tử Bạc Liêu

Ba Đức kể: “Gia đình tôi thật sự suy sụp khi con gái tôi mê bài bạc, bị lừa cả tình lẫn tiền, rồi bị bệnh tâm thần, tôi phải bán hết tài sản để chữa trị mà không khỏi, cuối cùng chạy hon đa ôm…”. Không biết có phải do gien của cha và ông nội hay không, mà cô gái Trần Thị Phượng mới lớn lên đã ăn chơi phóng túng và mê bài bạc.

Đến khi nợ nần do thua bạc chất chồng, rồi lại bị phụ tình, cô gái bị điên. Thương con, vợ chồng ông bán tất cả tài sản mà mình đang có để trả nợ và để chữa bệnh cho con. Để trốn nợ, ông phải đưa gia đình sang Campuchia làm nghề mua giày cũ tân trang bán lại kiếm sống. Chịu không nỗi cảnh túng quẫn, ông lại dắt gia đình về TP.HCM chạy xe ôm, rồi về Bạc Liêu.

Tỉnh Bạc Liêu đang tính xây phủ thờ và là nơi trưng bày về Công tử Bạc Liêu, vừa phục vụ du lịch, vừa làm nơi sinh sống của gia đình Ba Đức. Thương hiệu “Công tử Bạc Liêu” giúp cho du lịch tỉnh Bạc Liêu có sức hấp dẫn đặc biệt. Ba Đức sẽ làm công việc quản lý, hướng dẫn du khách tham quan và được trả lương…

Công ty Địa ốc Bạc Liêu đã dành một khu đất khoảng 300m2 ở vị trí khá đẹp ở thành phố Bạc Liêu để thực hiện ý tưởng trên.

Người con trai “thừa kế” của Công tử Bạc Liêu giờ đã chớm bước sang tuổi 70. Ba Đức có hai người con trai, một của vợ trước, mang họ mẹ, đang sống nghèo khó đâu đó ở tỉnh Đồng Tháp, cả chục năm rồi ông không gặp lại; một là anh ruột của cô gái điên, cũng đang sống không nhà đâu đó ở Đồng Nai, nhiều năm rồi ông cũng không gặp. Mai này khi vợ chồng Ba Đức theo ông theo bà, người “thừa kế” cuối cùng của dòng họ Trần Trinh không ai khác hơn là cô gái điên do bị tình phụ. Kết cục của chuyện tình dòng họ Trần Trinh sao mà quá bi đát!

Theo bee.net.vn ('http://bee.net.vn/channel/1984/201104/4-doi-Cong-tu-Bac-Lieu-va-mot-ket-cuc-bi-dat-1796009/')
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi : 179
Join date : 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Công tử Bạc Liêu - Part 3   Wed Mar 07, 2012 6:38 pm

Công tử Bạc Liêu: Cuộc đấu xảo sắc đẹp

Đốt tiền nấu chè, mua máy bay cùng lúc với vua Bảo Đại… đó là những giai thoại về công tử Bạc Liêu. Còn một chuyện ít người biết, là việc ông đã tổ chức cuộc thi hoa hậu (đấu xảo sắc đẹp) lần đầu tiên tại đồng bằng sông Cử Long.

Vào năm 1927, sau khi học ở Pháp về mà không lấy được bằng cấp gì, công tử Bạc Liêu tên thật là Trần Trinh Huy , hay còn gọi là Hắc công tử - đã lên Sài Gòn ăn chơi xả láng. Đó cũng là lúc Ba Huy tạo ra danh tiếng công tử Bạc Liêu lưu truyền đến bây giờ.

Thấy con mình ăn chơi quá độ, Trần Trinh Trạch (hay còn gọi là Hội đồng Trạch) – đại điền chủ số một của miền Nam với 120 ngàn ha đất – đã bắt Ba Huy về, “đày” xuống điền Bào Xàng thuộc xã Vĩnh Bình, huyện Hòa Bình ngày nay để trông coi điền sản. Thâm ý của ông Trạch là cánh ly Ba Huy khỏi chốn phồn hoa để làm lại cuộc đời.

Thời điểm đó tại Bào Xàng, Trần gia có 3.600 công ruộng, cho tá điền thuê mỗi năm 1,5 giạ lúa/công. Giữa cái điền rộng lớn ấy, ông Trạch cho xây một khu nhà lầu theo kiểu Pháp (bị đốt cháy năm 1945). Công tử Bạc Liêu bị “di lý” vào bằng ghe hầu. Đó là loại ghe trên mũi có chạm hình rồng phụng; trong ghe có sập gụ để uống trà, có bàn đèn để hút á phiện.

Ghe có 4 bạn chèo. Đây là phương tiện di chuyển chủ yếu của các đại điền chủ hồi xưa. Giữa một không gian quê mùa, lạc hậu và hiu hắt của đồng Bào Xàng, sự xuất hiện của Trần Trinh Huy tạo cảm giác lạ lẫm hiếu kỳ.

Khác các “dân cậu” của xứ Bạc Liêu với trang phục bà ba lụa soan trắng, Trần Trinh Huy thì lúc nào cũng com-lê: quần tây, áo sơ mi, đội nón nỉ, đi giày da, lưng thắt đồng hồ quả quít Ăng-lê.

Đối với công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Trạch áp dụng cơ chế thu nhiều thì hưởng nhiều, thu ít thì hưởng ít. Thế nhưng Ba Huy nào có quan tâm chuyện thu ít hay thu nhiều, bởi vì thu bao nhiêu Ba Huy cũng không nộp vào nhà lớn của ông Trạch.

Trạch hỏi thì Huy nói để tiền lo mua ruộng đất phát triển đồn điền. Thực chất số tiền ấy là để phục vụ cho một người quen ăn chơi hơn làm và ham hố phong tình đến thái quá.

Việc đầu tiên là Ba Huy bỏ tiền ra huy động tá điền chở đất lấp đầy cái ao sen của làng Bào Xàng rộng đến mấy chục ngàn mét vuông. Sau đó cho cất 5 dãy phố, cho thuê bán hàng xén (việc này chắc để che mắt cha già). Cứ ra giêng là Trần Trinh Huy mở lễ hội tưng bừng tại đây. Đó là lễ hội cúng kỳ yên.

Những người già kể rằng từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ họ chưa bao giờ thấy lễ cúng kỳ yên to như năm Ba Huy tổ chức. Kết hợp với lễ cúng là phần hội. Đầu tiên là hội chợ mà ngày xưa gọi là mở chợ phiên, bán suốt mùa cúng kỳ yên, kéo dài cả tháng.

Trong lễ hội đó, Ba Huy rước về 3 gánh hát: Việt, Hoa, Khmer. Tiếng nhạc ngũ âm, tiếng trống chầu, tiếng đàn nhị cứ réo rắt ò e vang động một góc trời. Dân ở nhiều làng lân cận cũng kéo đến chơi, đông đến vài chục ngàn người.

Tại sân lễ, nhiều hàng quán mở ra như quán nước hột é, cháo gà… Lại còn rất nhiều sòng bạc như đánh bài cào, hột me, xí ngầu… Ba Huy còn tổ chức các trò chơi dân gian như nhảy cà-roon, hoặc thi đấu võ đài. Và trong lễ hội ấy có một cuộc thi đặc biệt, mà những người lớn tuổi ở Bào Xàng vẫn còn nhớ như in, với tên gọi “đấu xảo sắc đẹp” hay gọi như bây giờ là thi hoa hậu.

Việc đầu tiên công tử Bạc Liêu nhờ hương chức làng thông báo trong điền rồi lan ra cả xã về cuộc thi sắc đẹp với các thông tin: giải nhất là một chiếc kiềng vàng mười, nặng 1 lượng. Đây là loại kiềng đeo cổ rất thời trang của phụ nữ quý tộc lúc bấy giờ, chứ con em tá điền không ai dám mơ có một lượng vàng. Giải nhì là 200 đồng bạc bộ lư, đủ mua 500 giạ lúa; giải ba thì thấp hơn.

Thông báo này cũng ghi rõ phụ nữ đi thi phải chưa chồng và có chiều cao giống như các số đo thi hoa hậu bây giờ. Nghe nói một số hương chức làng không đồng tình với “tiêu chí” do công tử đưa ra, vì hồi đó nhận thức thẩm mỹ về phụ nữ khác bây giờ, tức là người ta chỉ chú trọng khuôn mặt. Thế nhưng Ba Huy không chịu, ông kiên quyết giữ ý kiến của mình.

Đến ngày khai mạc cuộc thi, người đến dự ken đặc như hội và có đến hàng trăm phụ nữ tham gia, người ta nói sức hút là do giải thưởng quá cao. Tại nhà ngang của Hội đồng Trạch, trước khoảnh sân rộng, Ba Huy thiết kế giống như lễ đài, phía trong là nơi đặt bàn cho ban giám khảo và hương chức hội tề ngồi.

Ba Huy làm chánh chủ khảo. Ở giữa là nơi các đóa hoa đồng nội khoe sắc. Vòng ngoài cho dân chúng đứng xem. Trang phục của các thí sinh đều quần lụa áo bà ba. Cứ 2 người đi một vòng ngang ban giám khỏa hai lượt rồi tới cặp khác, cứ thế thi 3 vòng sơ tuyển , trung tuyển và chung kết. Có năm cuộc thi ấy chọn đến 6 người đẹp, thường thì chọn có 3 người theo ngôi thứ 1 hoa hậu, 2 á hậu.

Những người già ở làng Bào Xàng tận mắt chứng kiến cuộc thi ấy kể rằng: cho đến bây giờ họ vẫn nhớ mặt, nhớ tên những người đẹp do công tử Bạc Liêu chọn. Đó là bà D., bà B., bà Bảy D., bà M.R (người Khmer), bà T., bà Th. (con tằng khạo Hai). Đó là những người rất đẹp, đặc biệt là bà D. mày ngài mắt phượng, vẻ đẹp chim sa cá lặn. Sau đó bà D. có quan hệ tình cảm và được Ba Huy yêu nhất.

Tuy không dẫn về nhà lớn ở Bạc Liêu, nhưng Ba Huy coi bà D. là vợ bé. Mỗi lần vô điền, công tử Bạc Liêu đều cho gọi bà D. đến xuống ghe hầu qua tháp Vĩnh Hưng chơi mỗi lần ở đây có lễ. Bà D. Ở với Ba Huy sinh được đứa con trai.

Để kỉ niệm những chuyến đi chơi tháp Vĩnh Hưng với công tử Bạc Liêu, bà D. đặt tên con là Hưng. Mỗi tháng Ba Huy cấp cho 5 đồng để nuôi con (hồi đó lúa 2-3 cắc một giạ). Đứa con bà D. lên 7 tuổi thì té sông chết. Ba Huy giận, bỏ bà D. bơ vơ. Phải đến 7-8 năm sau bà D. mới đi lấy một ông thợ may.

Không biết ở Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long, người ta tổ chức một cuộc thi hoa hậu chính thức vào năm nào? Chỉ biết rằng, cuộc đấu xảo sắc đẹp của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy vào những năm đầu thập niên 30, thế kỷ 20 là có thật.



Theo baomoi.com ('http://www.baomoi.com/Cong-tu-Bac-Lieu-Cuoc-dau-xao-sac-dep/54/3864117.epi')
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi : 179
Join date : 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Công tử Bạc Liêu - Part 4   Wed Mar 07, 2012 6:42 pm

Giai thoại về Công tử Bạc Liêu xưa và nay

Đã từ lâu, trong dân gian vẫn truyền miệng câu thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" để chỉ lối sống phong lưu, phóng túng của những cậu ấm, cô chiêu xuất thân từ tầng lớp quý tộc, đại điền chủ giàu có ở vùng đất Nam Bộ dưới thời thực dân, phong kiến. Nhân vật làm nên linh hồn "Công tử Bạc Liêu" đó chính là Trần Trinh Huy (tên thật là Trần Trinh Quy), sinh ngày 22/6/1900 tại làng Vĩnh Hưng, quận Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, qua đời tại tư gia ngày 13/1/1974 tại Sài Gòn.

Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở vùng đất này. Thời đó dân gian đã có câu "nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Trạch" để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng đất Nam Kỳ. Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí du học bên Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay chơi để thể hiện mình. Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền như các công tử Bạc Liêu. Thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" có từ lúc ấy. Về sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng. Từ đó "Công tử Bạc Liêu" trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể tranh chấp.
Ngoài ra, Trần Trinh Huy còn được gọi bằng nhiều tên khác như Ba Huy, Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền), Hắc công tử (do nước da ngăm đen và để phân biệt với Bạch công tử Mỹ Tho-Tiền Giang), trong một gia đình đại điền chủ giàu có vào bậc nhất, nhì vùng đất Nam Bộ thời kỳ đầu thế kỷ XX. Cha của Công tử Bạc Liêu là Trần Trinh Trạch (hay còn gọi là Hội đồng Trạch)-chủ sở hữu 74 sở điền với 110.000 ha đất lúa ruộng, gần 100.000 ha ruộng muối, vài chục căn phố lầu ở Bạc Liêu và nhiều biệt thự sang trọng ở Cần Thơ, Sài Gòn, Vũng Tàu, Đà Lạt....



Cuộc đời thật Trần Trinh Huy

Sau 3 năm dùi mài học tập ở Pháp quốc đã không mang về cho gia tộc Trần Trinh một học hàm, học vị nào cả. Công tử Bạc Liêu về nước, hành trang của ông ta là kinh nghiệm nhảy đầm, lái xe và một bầu tâm sự ngày đêm thương nhớ cô vợ đầm và đứa con còn gửi nơi kinh thành ánh sáng Paris. Về nước, Ba Huy có nhiều bà vợ Việt và hàng lố nhân tình nữa. Bà đầu tiên mà Ba Huy cưới tại Bạc Liêu tên Ngô Thị Đen. Bà này ở với Ba Huy sinh được người con gái là cô Hai Lưỡng. Sau cô hai Lưỡng qua Pháp sống. Từ năm 1945, Ba Huy lên Sài Gòn ở hẳn, ông đi chơi ở Mỹ Tho rồi cưới cô Nguyễn Thị Mẹo sinh được 4 người con, đặt tên Hiếu, Thảo, Nhơn, Đức. Bà cuối cùng là một "hoa khôi chân đất" tên là Bùi Thị Ba làm nghề gánh nước mướn. Bà này rất đẹp, nhỏ hơn cậu Ba 40 tuổi. Khoảng năm 1968, cậu Ba ở căn phố đường Nguyễn Du-Sài Gòn. Mỗi sáng đứng trên lầu nhìn xuống thấy có nhỏ con gái gánh nước qua lại đẹp quá, cậu Ba đem lòng cảm mến. Hỏi thăm thì được biết cô gái đó là con ông già làm nghề sửa xe đạp. Cậu Ba tìm đến đặt vấn đề liền, xin đổi căn nhà đang ở lấy cô gái. Từ đó người đẹp gánh nước mướn trở thành phu nhân của Hắc công tử, thủy chung đến ngày ông nhắm mắt. Hai người có với nhau hai cậu con trai và hai cô con gái là Hoàn, Toàn và Trinh, Nữ. Ngoài những bà "chánh thức" vừa kể, những bà “bên lề” và tình nhân thì không sao kể hết. Bên cạnh lối sống phóng túng, phong lưu, cậu Ba Huy cũng là người nhân hậu, sống có tình, có nghĩa, rất rộng rãi, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khi họ gặp hoạn nạn. Tá điền không thấy ông đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn nỉ ông còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền ít ai oán ghét Ba Huy. Trong các mối quan hệ xã hội, Ba Huy không sống dè dặt, mưu toan, tính toán thiệt hơn. Trong con mắt giới giang hồ tứ chiếng thời đó, Ba Huy được coi là người "ngon" nhất Nam Bộ không phải bởi cái vẻ hào hoa, sang trọng bên ngoài mà bởi sự khoáng đạt, phóng túng trong cách sống. Trong con mắt người Pháp, Ba Huy được nể trọng vì lấy được vợ đầm và mướn người Pháp làm công cho mình.


Những vật dụng mà gia đình ông Trần Trinh Huy đã sử dụng vẫn được lưu giữ đến nay.

Những giai thoại về Công tử Bạc Liêu

Ông Trạch giao cho Ba Huy việc trông coi điền sản. Đi đòi nợ các tỉnh, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe đó cả miền Nam khi ấy chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại. Ba Huy còn thuê một người Pháp làm công cho mình. Đó là ông Henri Espérinas (em rể), chồng cô Tư Nhớt. Ông này làm quản lý, điều hành gia sản cho ông Hội đồng Trạch, dưới quyền Ba Huy. Theo hợp đồng, quản lý được hưởng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm. Chính vì vậy ông Henri mới bỏ "mẫu quốc" qua làm mướn cho bên nhà vợ, mãi đến tháng 4/1975 mới về nước. Một sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Và lúc ấy cả Việt Nam cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu và của vua Bảo Đại. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt biết mình đã bay sang tận Thái Lan. Trần Trinh Huy bị nhà cầm quyền Thái Lan bắt giữ và phạt 200.000 giạ lúa. Ông Hội đồng Trạch phải cho một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Thái Lan để chuộc quý tử. Ông là người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân. Ba Huy sinh hoạt cực kì sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston, thứ hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự gia đình mà vào một trong những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát , Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại chở những món đồ như mũ, gậy...

Một sự kiện đã tạo thành giai thoại Công tử Bạc Liêu là năm 1929, Bạch công tử (BCT) lập luôn hai gánh cải lương là Phước Cương và Huỳnh Kỳ, mời hai cô đào tài sắc thời đó là cô Năm Phỉ và cô Bảy Phùng Há về thủ vai chính cho hai đoàn. Một lần, đoàn Huỳnh Kỳ có cô Bảy Phùng Há về Bạc Liêu diễn, BCT mời Hắc Công Tử (HCT) đi xem. Đang xem, BCT móc thuốc hút, vô ý làm rớt tờ giấy con công (giấy bạc 5 đồng thời đó), BCT gạt chân HCT kiếm. HCT thấy vậy hỏi: Toa kiếm gì vậy?. Kiếm tờ con công. HCT mỉm cười nói: Để moa đốt đuốc cho toa kiếm. Nói rồi HCT móc tờ giấy bạc bộ lư (mệnh giá 100 đồng) châm lửa soi cho BCT kiếm (thời đó lúa chỉ có 8-9 cắc một giạ). Bị một vố quá mạng, vãn tuồng, BCT nói: Toa chơi moa một cú đau quá. Bây giờ nếu toa ngon, toa với moa cân mỗi người ký đậu xanh, rồi lấy tiền nấu, ai sôi trước người ấy thắng? HCT đâu chịu thua. Tối hôm sau, HCT cho trải thảm đỏ từ ngoài cổng vào tận thềm nhà (nay là Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu), cứ mỗi thước cho một gia nhân cầm đuốc soi đường, nghinh đón phái đoàn của BCT. Hai nồi đậu xanh được nhắc lên bếp, hai chàng công tử lấy tiền ra đốt. Nồi đậu xanh của BCT hôm đó sôi trước. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông ta đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ, lương của Thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.

Về thăm Khách sạn Công tử Bạc Liêu

Có một địa chỉ mà bất cứ du khách nào khi đặt chân về Bạc Liêu cũng muốn tìm đến, nghỉ một đêm cho biết. Đó là Khách sạn Công tử Bạc Liêu. Khu nhà cổ tọa lạc ở 13 Điện Biên Phủ, phường 3, thị xã Bạc Liêu-Bạc Liêu là nơi gia đình ông Trần Trinh Huy từng trú ngụ. Ngôi nhà được xây dựng năm 1919 do kỹ sư người Pháp thiết kế và xây dựng. Nhà có tất cả 2 tầng. Tầng trệt gồm 2 phòng ngủ, 2 đại sảnh. Chính giữa là cầu thang lên lầu trên gồm 3 phòng ngủ, 2 đại sảnh, phòng ở hướng đông bắc là phòng của ông Trần Trinh Trạch, phòng đối diện là phòng của Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy. Đây là căn nhà được coi là bề thế nhất không chỉ ở Bạc Liêu mà cả lục tỉnh Nam Kỳ lúc bấy giờ. Từ đó đến nay, gần một thế kỷ qua, căn nhà gần như vẫn giữ được những nét cơ bản của nó. Năm 2003, Công ty Du lịch Bạc Liêu đã đầu tư tu sửa căn nhà nhằm đưa vào kinh doanh văn hóa du lịch. Hiện nay Nhà hàng-Khách sạn Công tử Bạc Liêu được thiết kế 10 phòng nghỉ. Giá phòng từ 200.000 - 240.000đồng/ngày đêm. Chị Võ Kim Cương - Giám đốc Khách sạn Công tử Bạc Liêu cho biết: Từ ngày đưa vào hoạt động, Khách sạn công tử Bạc Liêu luôn đạt công suất khá cao gần 80%. Riêng căn phòng của Công tử Bạc Liêu (phòng 101) có giá thuê 350.000 đồng/ngày đêm, nhưng phải đặt trước từ 7-10 ngày, vì phòng này lúc nào cũng có khách, phần đông là Việt Kiều. Nhà hàng - Khách sạn Công tử Bạc Liêu hiện nay được rất nhiều người dân Bạc Liêu nhất là những đôi uyên ương chọn làm tiệc cưới. Tuy nhiên do qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau mà vật dụng trong gia đình đã thất lạc rất nhiều, nhưng với những gì còn sót lại và được bảo quản như hiện nay cũng đủ nói lên được sự giàu có của gia đình ông Hội đồng Trạch lúc bấy giờ.

Theo suckhoedoisong.vn ('http://suckhoedoisong.vn/2009227101829806p61c67/giai-thoai-ve-cong-tu-bac-lieu-xua-va-nay.htm')
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Công tử Bạc Liêu   

Về Đầu Trang Go down
 
Công tử Bạc Liêu
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
THE SIGHT :: Góc tư liệu-
Chuyển đến