THE SIGHT

CHIA SẺ TẦM NHÌN
 
IndexIndex  PortalPortal  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  
Share | 
 

 Thánh vật ở sông Tô Lịch

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 179
Join date: 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Thánh vật ở sông Tô Lịch   Tue Mar 06, 2012 5:37 pm

Tóm lược sự việc như sau :

Vào ngày 27/9/2001, đội thi công số 12 -Thuộc Công ty xây dựng VIC ,trong khi nạo vét sông Tô Lịch,thuộc địa phận làng An Phú - Phường Nghĩa Đô - Quận Cầu giấy - HÀ NỘI đã phát hiện được di vật cổ rất lạ và huyền bí. Đó là 7 cây gỗ được chôn đứng dưới lòng sông, tạo thành một đa giác đều,tại đó có các bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai, táng giữa các cọc gỗ đó. Ngoài ra còn phát hiện được tấm gỗ Vàng tâm có hình Bát quái, một số đồ Gốm, xương Voi, Ngựa, dao, tiền đồng.

Sau khi đã rút những cọc gỗ đó lên, lấy các bộ hài cốt đem lên Bát Bạt -Hà tây ( là nơi nghĩa trang chôn cất chung của TP.Hà nội ), thấy có rất nhiều hiện tượng kỳ lạ xẩy ra. Nào là các việc chuẩn bị tiến hành thi công bị rối tung lên, máy xúc KOMATSU tự nhiên lao xuống sông;. Nào là một số người đang làm việc tự nhiên ngã lăn ra đất, chân tay co rúm, cứng đờ, lưỡi thè ra ngoài và trở nên hoàn toàn mất tư thức trong nhiều giờ;. Địa tầng của cả khu vực thi công tự nhiên biến đổi, không giống như khảo sát ban đầu; Thử đưa la bàn vào khu vực đó thấy kim la bàn quay tít.

Một năm sau sự việc trên,có hàng loạt sự kịên ngẫu nhiên xẩy ra ,gây kinh hoàng cho toàn đội xây dựng số 12,là đội đă trực tiếp thi công khu vực trên. Bản thân, gia đình, anh em của những người công nhân trực tiếp ngụp lặn vớt hài cốt, nhổ cọc đóng dưới lòng sông liên tục bị các tai nạn thảm khốc như chết, bệnh tật, tai nạn. Sự việc lên đến đỉnh cao khi có tới 43 người thợ bỏ không dám tiếp tục làm việc tại công trường nữa. Trong số đó nhiều người không nói rõ lý do, cũng không đòi hỏi vật chất mà đáng ra họ được hưởng.
Ngày 9/10/2001 những người thợ đã mời một thày theo đạo Tứ phủ đến giải thích, theo nhận định của Thày thì đây là một đạo Bùa Bát quái trận đồ được chôn yểm lâu đời để trấn yểm Long mạch của khu vực này. Sau đó các công nhân lại tiếp tục mời Thượng tọa Thích Viên Thành tới. Thượng tọa Thích Viên Thành đã cho 5 đệ tử lập đàn tràng, làm lễ Hàn lại Long mạch: Chỉ hơn 1 tháng sau, Thượng tọa Thích Viên Thành đã bị bệnh chết.

Các nhà khoa học đã có những đánh giá sơ bộ, song cho đến nay vẫn chưa có kết luận nào khả dĩ có thể lý giải và khắc phục các sự việc trên.
Giáo sư Trần Quốc Vượng có kết luận như sau :" Trước đây, cổng Hoàng thành ngoài lính còn có Thần chấn giữ 4 cửa (Thăng Long Tứ trấn ) và có yểm bùa hay còn làm lễ Hiến Sinh. Như vậy đây là cổng thành phía Tây của La thành. Thông qua tính tương đối thống nhất giữa niên đại của Tiền và đa số đồ gốm cho thấy niên đại của địa điểm này trong khoảng thế kỷ 11 cho đến 14, thuộc vào thời Lý -Trần Việt Nam hay thời Tống của Trung Quốc.
Sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa hiện tượng sông Tô bị lở do đổi dòng và mắt nhà Vua bị đau, đã tạo ra một lễ trấn yểm, trong đó có những bộ xương người cùng những hiện vật khác chăng.( Ở đây GS Trần Quốc Vượng muốn nhắc đến sự tích Ông Dầu bà Dầu trong chuyện cổ tích Việt nam - Người viết ). Đó là một phần của những gì đã đăng tải trên tờ báo. Gần đây, một người bạn của tác giả có cho biết : Đài truyền hìnhcó phát tin người ta đã chuẩn bị khôi phục lại hiên trạng di vật như lúc ban đầu.

Người viết bài này lại có ý kiến khác hẳn: Theo thiển ý của người viết, đây là một hiện tượng trấn yểm nhằm cắt và bế Long Mạch, chận đường của Khí. Ai đã chấn yểm vị trí này và mục đích sự trấn yểm này để làm gì ?. Theo thiển ý của người viết : Đây là tác phẩm của Cao Biền, Tiết độ sứ của TQ vào thế kỷ 8 -Tức là trước thời nhà Lý khoảng 200 năm.

Người viết xin được chứng minh như sau :

Trước hết nói về ý kiến của GS Trần Quốc Vượng; người viết cũng đồng ý rằng đây là một sự trấn yểm sông Tô lịch, song không chỉ căn cứ vào niên đại của một số đồ gốm nhặt được mà cho rằng sự việc xẩy ra vào thời Lý - Trần. Nếu theo Truyền thuyết " Tại sao sông Tô lịch và sông Thiên Phù hẹp lại " hay truyền thuyết " sự tích Ông Dầu bà Dầu ", tác giả của sự việc trên là các vị Vua nhà Lý, nhằm trấn yểm sự Báo thù của Ông bà Dầu, thì không có sự việc sông Tô Lịch và Thiên Phù cứ ngày càng hẹp lại,đến nay chỉ còn là một con sông nhỏ xíu, làm nhiệm vụ thải nước bẩn cho Hà Nội. Ta nhớ rằng theo sử sách sông Tô lịch ngày xưa rất rộng, trên bến, dưới thuyền, là trục Giao thông chính thủa ấy. Mặt khác thời Lý Trần có rất nhiều nhà Phong Thủy Việt nam tài giỏi như : Thiền sư Định không làng Cổ pháp (Sư thọ 79 tuổi -Năm Bính tư 808 ), Sư La chân Nhân (852 -936 ), Sư Vạn Hạnh..
Dĩ nhiên các vị sư đó không thể nào để cho các Vua Lý chấn yểm sông Tô Lịch và Thiên Phù, để đến nỗi sông Tô Lịch và Thiên Phù cứ ngày càng hẹp lại và Ngôi báu Vua Lý chẳng bao lâu về tay nhà Trần. Dòng họ Lý bị tuyệt diệt đến nỗi chỉ có người nào đổi qua họ Nguyễn mới thoát khỏi.
Bây giờ ta xét sự việc dưới một góc độ khác qua các sự kiện Lịch sử và các truyền thuyết còn lưu lại trong dân gian.

Theo Việt sử lược : Thành Đại La được xây dựng vào thế kỷ 7 có tên là Tống Bình. Năm thứ 2 niên hiệu Trường khánh (Nhâm Dần -822 ), Vua Mục Tông nhà Đường dùng Nguyên Hỷ làm quan đô hộ. Nguyên Hỷ thấy cửa thành có dòng nước ngược sợ rằng dân ở thành có ý đồ phản nghịch, liền sai Thầy bói gieo 1 quẻ. Thầy bói nói rằng : Sức ông không đủ để bồi đắp thành lớn, 50 năm sau, có một người họ Cao đóng đô tại đây mà xây dựng Vương phủ .

Tới đời vua Đường Y Tôn (841 -873 ), Cao Biền được cử sang đất Việt làm Tiết Độ sứ. Cao Biền là một con người đa hiệu: Vừa là một vị Tướng,vừa là một nhà Phù thủy, một Đạo sĩ, cũng là một nhà Phong thủy có tài. La Thành được Cao Biền sửa chữa, chỉnh đốn lại cho hợp Phong Thủy vào các năm : 866, 867, 868. Theo truyền thuyết, khi Cao Biền xây dựng lại thành Đại La, thì khu vực thi công có hiện tượng sụp lở đất. Cao Biền liền tiến hành chấn yểm Thần sông Tô lịch và một số điểm khác như đền thờ Thần Bạch mã, núi Tản Viên. Sau đó công viêc xây dựng mới có thể hoàn tất.
Tới đây, ta nhớ lại một truyền thuyết khác của dân tộc Việt nam. Đó là " Truyền thuyết Thành Cổ Loa " Tương truyền rằng khi xây dựng thành Cổ loa, An Dương Vương cũng xây mãi mà thành vẫn bị đổ. Khi đó Rùa Thần hiện ra chỉ cách cho xây và cho một cái móng chân, lúc đó thành Cổ loa mới có thể xây dựng xong".
Về mặt địa lý, La thành và Thành Cổ loa cách nhau không xa ( Theo đường chim bay chỉ vài chục km ).

Tới đây, ta buộc phải tự đặt câu hỏi : Có sự trùng hợp giữa hiện tượng sụp đất của Thành Cổ loa, sự sụp đất của thành Đại la và sự sụp lở đất không thể khắc phục được trên công trình nạo vét sông Tô Lịch ?.

Qua hai truyền thuyết trên, bỏ qua các sự việc có tính chất dị đoan, chúng ta phải chấp nhận một sự thực là: Vùng đất từ đầu nguồn sông Tô Lịch kéo dài đến Cổ Loa - Đông Anh HÀ NỘI là một vùng đất có địa tầng địa chất không ổn định. Ta cũng cần phải nhớ rằng : Núi Tản viên nằm ở hướng Tây Hà Nội. Mặt khác phía Tây và Tây Bắc của La Thành là một vùng núi non trùng điệp của các tỉnh HÒA BÌNH, SƠN LA, LAI CHÂU...Theo định nghĩa của môn Phong Thủy, Long Mạch xuất phát từ những rặng núi cao. Núi mà từ đó khởi nguồn Long mạch gọi là Tổ sơn. Ngoài ra Long mạch còn xuất phát từ những khu vực khác gọi là Thiếu sơn. Ta cũng biết rằng thiên khí từ trên trời luôn có tính chất giáng xuống, các đỉnh núi cao là những antena tiếp thu sinh khí. Từ những sự việc trên, ta cảm nhận được rằng có một Long mạch rất lớn bắt nguồn từ núi Tản Viên và các rặng núi phía Tây, Tây bắc của Thành Đại la kéo dài qua thành Đại La theo dọc sông Tô Lịch (khí thường đi theo nước ), chạy qua khu vực Hồ Tây bây giờ (Hồ Tây trước kia là một khúc của dòng sông Hồng ), sau đó sang tới tận địa phận Cổ Loa -Đông Anh - HÀ NỘI và còn theo hướng Đông, Đông Bắc đi tiếp .

Chính vì có Long mạch này mà Cao Biền phải vô cùng bận tâm, khổ trí nhằm tiêu diệt hoặc chấn yểm. Có rất nhiều tryền thuyết về Cao Biền liên quan đến các khu vực khác nhau của Long mạch này. Ta có thể kể ra đây những hoạt động của Cao Biền liên quan đến các khu vực của Long mạch này : Đầu tiên là truyền thuyết Cao Biền chấn yểm núi Tản Viên, hắn đã sử dụng đến 8 vạn cái tháp bằng đất nung để chấn yểm núi Tản viên. Tới gần đây người ta còn đào được những cái Tháp đất nung đó tại khu vực Hà nội. Tiếp theo là truyền thuyết Cao Biền dùng hơn 4 tấn sắt, đồng...chôn để chấn yểm đền Bạch Mã là nơi vị thần sông Tô Lịch trú ngụ. Cao Biền còn nhiều lần dựng đàn tràng, dùng 4 thứ kim loại : sắt, đồng, vàng, bạc chấn yểm nhiều nơi trên bờ sông Tô Lịch. Theo sử sách, Cao Biền đã đặt Bùa chấn yểm tới 19 nơi dọc theo sông Tô Lịch.

Thời bấy giờ nước Nam có nhiều vị đại sư tài ba lỗi lạc, hiểu biết rất giỏi về Nho,Y, Lý số và thuật Phong Thủy đã hóa giải sự trấn yểm của Cao Biền bằng phép Huyền môn. Các đại sư thường tụ tập tại ngôi đền SƠN TINH THỦY TINH ở núi Ba vì, hay ở đền BẠCH MÃ, dùng những hiểu biết về Phong Thủy để chấn áp bùa phép của Cao Biền.

Trở lại, đạo bùa tìm thấy trên lòng sông Tô Lịch, có rất nhiều lý do để có thể kết luận rằng : Đó là tác phẩm của Cao Biền, chứ không phải là của các nhà vua Lý. Tác phẩm đó là của Cao Biền đời nhà Đường, thuộc về thế kỷ 9, tức là trước thời các nhà Lý khoảng 200 năm (Lý thái Tổ -Năm 1010 ). Nếu xét về niên đại của cổ vật tìm thấy, thì trong khoảng 200 năm các cổ vật trên cũng không có sự thay đổi nhiều. Cũng không loại trừ trường hợp các cổ vật ở trên đất liền rớt xuống lòng sông thời gian sau khi Cao Biền trấn yểm.

Bây giờ ta lại xét đến mục đích của Cao Biền khi trấn yểm sông Tô Lịch. Cho tới tận giờ phút này, khi các bạn và tôi đang ngồi bên máy vi tính,người ta vẫn sử dụng các thủ thuật : Châm cứu, điện chẩn, xoa bóp, bấm huyệt ... để chữa bệnh. Tất cả các thủ thuật đó đều dựa trên lý thuyết về hệ thống kinh mạch, huyệt, lạc trong cơ thể con người. Người ta xác định được hàng ngàn vị trí Huyệt đạo trong cơ thể con người. Tùy theo từng trường hợp khi châm cứu, người ta dùng kim tam lăng để châm vào các huyệt khác nhau, với thời gian và độ nông sâu khác nhau. Trong dân gian còn lưu truyền các biện pháp bấm, điểm huyệt có thể làm cho một bộ phận nào đó của cơ thể không còn khả năng cử động, hoặc nặng hơn là bộ phận đó không còn sử dụng được. Ta vẫn biết rằng :THIÊN ĐỊA NHÂN là hợp nhất. Mọi vật thể từ Vi mô cho đến Vĩ mô đều phải tuân theo những quy luật chung của sự tương tác vũ trụ. Phải nói dài dòng như vậy để có thể tạm kết luận rằng, trên Trái đất này cũng phải có những đường kinh mạch, huyệt, lạc như trong cơ thể con người. Trái đất này là một cơ thể sống chứ không phải là một cục đất chết như nhiều người vẫn nghĩ. Ta cũng có thể suy ra một hệ quả rằng :Tại một điểm nào đó, người ta có thể dùng một thủ thuật nào đó, có thể ngăn, bế hoặc chặn đường đi của một Long mạch như Cao Biền đã làm. Thủ thuật này người xưa gọi là trấn yểm.

Bây giờ ta tạm thời đưa ra các nhận định như sau :

1. Đạo Bùa trấn yểm trên dòng sông Tô Lịch là của Cao Biền -Tiết độ sứ của nhà Đường, dùng để chấn yểm long mạch, khi tiến hành xây dựng thành Đại La vào thế kỷ 9. Đó là 1 trong 19 nơi mà Cao Biền đã thực hiện trấn yểm.Đạo Bùa đó hoàn toàn không phải do các Vua thời nhà Lý chấn yểm trong Truyền thuyết Ông Dầu, bà Dầu khoảng 200 năm sau khi Cao Biền thực hiện chấn yểm.

2. Chấp nhận có một Long mạch rất lớn xuất phát từ phía Tây của thành Đại La (Các dãy núi thuộc các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, và gần nhất là dãy núi Tản Viên); Long mạch này đi qua thành Đại La, cụ thể theo dọc sông Tô Lịch, qua khu vực Hồ Tây, kéo dài sang Cổ Loa - Đông Anh - HÀ NỘI; Long mạch này còn kéo dài tới dãy Yên Tử và theo hướng Đông Bắc tới tận Quảng Ninh. Đây chỉ là nhánh Thanh Long của đồng bằng Bắc Bộ. Nhánh Bạch Hổ khi có điều kiện tôi xin chứng minh tiếp.

3. Cao Biền đã thực hiện biện pháp trấn yểm Long mạch, nhằm bế dòng khí của Long mạch này. Thủ thuật trấn yểm tương tự như thuật điểm huyệt trong đông y học.

Đến đây ta đặt ra câu hỏi :
1. Tại sao có hiện tượng kỳ lạ và bí ẩn đã xẩy ra cho các công nhân trong đội xây dựng số 12. Bản chất hiện tượng đó như thế nào ?
2. Tại sao sau khi Cao Biền trấn yểm sông Tô Lịch, kể từ đó tới tận ngày hôm nay, trong lịch sử ta không còn nghe có vụ sụt lở đất nào khác ngoại trừ trường hợp trên sông Tô Lịch đã nêu ở trên sau khi người ta đã rút các cọc trấn yểm lên.
3. Hậu quả của việc rút bùa trấn yểm lên sẽ như thế nào đối với khu vực dọc theo sông Tô Lịch nói riêng và cả khu vực HÀ NỘI, các vùng phụ cận nói chung. Hậu quả sẽ như thế nào đối với Long mạch đi qua thành Đại la ?
4. Biện pháp khắc phục sự việc trên như thế nào ?. Người ta có thể hàn lại Long mạch như Thượng Tọa Thích Viên Thành đã thực hiện hay không ?. Trường hợp khôi phục lại Bùa chấn yểm đó xấu hay tốt ?.

Người viết bài này xin mạo muội lý giải các câu hỏi trên. Vì tình yêu đối với HÀ NỘI, quê hương của người viết, vì trách nhiệm một người Việt nam đối với quê hương rất mong được cùng các bạn trao đổi, hầu tìm ra những giải pháp khắc phục hiện tượng kể trên. Đó là trách nhiệm chung của chúng ta không chỉ phải của riêng ai.
Người viết xin được lần lượt lý giải các vấn đề trên như sau :

1. Tại sao có hiện tượng kỳ lạ và bí ẩn xảy ra cho các Công nhân trong đội xây dựng số 12
-Bản chất của hiện tượng đó như thế nào ?.


Trong thuật Phong Thủy, Khí là một hiện tượng rất khó giải thích, nhưng nó là một khái niệm cơ bản của thuật Phong Thủy. Nhận định đúng về Khí là chìa khóa mở vào lý thuyết cốt yếu của Phong Thủy. Theo quan niệm Á đông, Khí ẩn tàng làm động lực cho Trời đất vạn vật. Khí không những hội tụ trong các vật thể hữu hình mà còn tản mát vô hình sau khi vật thể tan rã để tạo thành những thể rất Linh thiêng gọi là Linh Khí của Vũ trụ. Người xưa có câu : Tụ là hình tán là Khí. Ngày nay Khoa học phát hiện được một vài dạng của Khí, gọi là Plasma sinh học.các dạng đó có thể đo, đếm được. Trong Đông Y học người ta phát hiện Hệ thống Kinh , Mạch, Huyệt là đường vận hành của Khí từ rất xa xưa. Người ta phát hiện rằng : Khí vận hành trong Kinh, Lạc như một dòng nước, chỗ đi ra gọi là Tĩnh, trôi trảy gọi là Huỳnh, dồn lại gọi là Du, đi qua gọi là Kinh, nhập lại gọi là Hợp. Đường Kinh không đơn giản là một ống dẫn vật chất nào đó. Đường Kinh là một chùm ống dẫn Khí Ngũ hành xuyên suốt các cơ quan, bộ phận của một Tạc tượng. Ngoài ra người xưa còn biết rất sâu về bản chất của Khí, có một lý thuyết về Thời châm vô cùng chính xác là Tí Ngọ lưu trú và Linh Quy bát pháp. Đó là trên cơ thể con người,còn trong Phong Thủy ,người ta quan niệm rằng Nguyên Khí trong lòng đất, tương tự như hệ thống mạch, huyệt trong Đông Y. Nguyên Khí được xem là gắn bó với nước, nước giúp Khí di chuyển, nước đi thì Nguyên Khí cũng đi, nước ngừng thì Nguyên khí cũng ngừng. Sinh Khí tụ mạnh nhất là nơi giao hội của nước ( nơi các dòng sông hội tụ chẳng hạn ). Người viết chỉ nêu ra một số quan niệm về Khí, dùng cho việc chứng minh luận điểm của mình, còn Lý thuyết về Khí thì vô cùng, vô tận. Mặt khác, có thể tìm hiểu cơ chế của mối quan hệ giữa hài cốt người chết đối với người thân thích còn sống như thế nào ?. Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương: Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và thân xác người còn sống, nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều, nên trong lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống.
Trở lại câu chuyện trên dòng sông Tô Lịch: Người viết cho rằng : Long mạch đã nói ở phần trên bị Cao Biền trấn yểm đúng Huyệt vị, đã bị ngăn chặn lại tại nơi có đạo Bùa chấn yểm. Hậu quả của đạo Bùa này làm cho Nguyên Khí không thể tiếp tục đi theo hành trình vốn có của nó, làm cho vùng đất dọc theo Long mạch sau khi bị chấn yểm trở nên cứng hơn, ổn định hơn. Bằng chứng là về sau này ta không còn nghe được sự việc sụt lở đất tương tự như thế nữa. Ta có thể hình dung hơi thô thiển là Long Mạch giống như một mạch máu, bị cột lại một đầu, không cho dẫn máu tới các vùng sau đó được nữa. Các bộ phận cơ thể đằng sau chỗ bị cột vì không có máu nuôi nên dần dần bị khô, teo đi. Ta cũng để ý một điều rằng :Thành phố Hà nội ngày nay có rất nhiều hồ nước con đang tồn tại như hồ Tây, hồ Gươm, hồ Bảy mẫu, hồ Ha Le ...Mặt khác sông Tô Lịch và Thiên Phù dần dần bị hẹp đi và giờ đây chỉ còn là con mương nhỏ dẩn nước thải cho TP.HÀ NỘI. Ở đây có một câu hỏi thú vị là : Nếu như Cao Biền ( vốn được coi là tổ sư của Phong Thủy ) đã quyết tâm trấn yểm tiêu diệt dòng sông Tô Lịch thì sao cho đến tận bây giờ sông Tô Lịch vẫn còn tồn tại ( mặc dù chỉ là con mương nhỏ ). Theo người viết,nếu Cao Biền trấn yểm đúng thì ngày nay ta chỉ còn nghe đến tên của nó qua lịch sử. Đến đây người viết khẳng định :Cao Biền có sự sai lầm trong việc chấn yểm. Nguyên nhân sự sai lầm của Cao Biền chính là sự hiểu biết vô cùng chính xác của các vị Vua Hùng - Tổ tiên của người Việt chúng ta trong thuật Phong Thủy nói riêng và trong Thuyết Âm Dương, Ngũ Hành nói chung. Vì tiên đoán được các sự việc sẽ xẩy ra, sau khi mất nước, các Vua Hùng đã cố ý làm sai lạc một phần của Thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Người viết xin chứng minh vấn đề này ở phần sau.

Bây giờ ta đi vào trả lời câu hỏi nguyên nhân của sự việc xẩy ra cho công nhân đội xây dựng số 12. Theo người viết như sau : Tại chỗ có đạo Bùa, Nguyên Khí bị bế lại lâu năm, khi tháo gỡ đạo Bùa, giống như tháo bỏ chỗ bị cột trong mạch máu, Nguyên khí bị thoát ra ngoài tại vị trí chấn yểm và lan tỏa ra xung quanh. Ta chưa xét đến sự tốt xấu của dòng Khí đó với cơ thể con người. Chỉ biết một điều rằng : Chính dòng Khí đó làm mất cân bằng cục bộ môi trường xung quanh chỗ đường Khí được giải phóng. Chính vì vậy những người Công nhân đang làm việc tại khu vực đó bị các hiện tượng kỳ lạ đã nêu ở phần đầu. Khi cơ thể con người bị mất cân bằng về Khí dẫn đến hiện tượng mất khả năng hoạt động Thần kinh. Như vậy cũng chẳng có gì khó hiểu khi các công nhân đội xây dựng só 12 gặp phải. Ngoài ra do ảnh hưởng của Quy luật " Đồng thanh tương ứng - Đồng Khí tương cầu ", hay là hiện tượng cộng hưởng Harmonic mà Thân nhân, dòng họ của những người công nhân đội xây dựng số 12 phạm phải , mặc dù họ không trực tiếp có mặt trên công trường. Đó là hiện tượng cũng dễ hiểu.

Có điều nguy cơ tiềm ẩn ở đây là : Nơi dòng Khí thoát ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với TP.HÀ NỘI ?. Đây là một vấn đề quan trong cần có sự nghiên cứu nghiêm túc.

2. Trả lời cho câu hỏi : Tại sao sau khi có sự chấn yểm của Cao biền,vùng đất dọc theo Long mạch kể từ chỗ bị trấn yểm trở nên cứng và ổn định hơn và từ đó về sau này ta không còn nghe có các vụ sụt lở đất ở khu vực dọc theo Long mạch tương tự nữa,ngoại trừ trường hợp đã xẩy ra trên sông Tô Lịch, khi đạo Bùa trấn yểm đã được nhổ lên ?.

Tiếp tục phát triển tính nhất quán của phần trên : Khi đường Khí của Long mạch đã bị bế lại, nguyên Khí không thể tới được các vùng đất ở sau chỗ trấn yểm được nữa, và Nguyên Khí luôn có nước đi cùng nên lượng nước tới các vùng đó cũng bị giảm đi. Kết quả là vùng đất sau chỗ bị trấn yểm cứng lên, và kết cấu của Địa tầng, địa chất cũng trở nên ổn định hơn. Khi một vùng đất đã có địa tầng địa, chất ổn định thì tất yếu dẫn đến các vụ sụt lở đất khi xây dựng các công trình tự nhiên mất đi. Đó là một sự việc không có gì là bí ẩn trong nghệ thuật xây dựng hiện nay. Tại công trình nạo vét sông Tô Lịch, khi đạo Bùa chấn yểm bị nhổ lên, lập tức Nguyên khí bị phong tỏa ùa thoát ra ngoài với một tốc độ và lưu lượng vô cùng lớn, làm cho đất, đá của cả khu vực nhão ra như bùn, trở nên mất ổn định cục bộ. Ở đây ta cũng cần lưu ý rằng : Khi Nguyên khí thâm nhập vào lòng đất quá nhiều thì không chỉ đất, cát mà thậm chí cả đá hay các vật thể rắn khác đều trở thành bùn nhão, bởi tính chất của Nguyên khí khác với tính chất của nước. Ta cũng để ý rằng nơi nào mà nguyên khí ít ỏi hoặc không có vùng đó sẽ trở nên khô cằn, cây cối không thể phát triển được. Đó là trường hợp của các sa mạc, hoang mạc trên trái đất. Tại núi Ngự bình ở Huế cũng có trường hợp tương tự. Rất nhiều lần người ta tổ chức trồng cây trên núi Ngự bình song đều thất bại.

Như vậy, ta có thể kết luận rằng : Trong quá trình xây dựng Thành Đại la, Cao Biền gặp một vùng đất có kết cấu không ổn định nên đã thực hiên việc trấn yểm kể trên với mục đích làm cho đất cứng và ổn định hơn trước. Biện pháp thực hiện là dùng thủ pháp điểm huyệt đất tương tự như thủ thuật châm cứu, điểm huyệt trong đông Y. Ở đây còn có ý nghĩa sâu xa là trấn yểm các Long mạch, các huyệt phát Đế Vương của đất Việt. Tuy nhiên vì có sự sai lầm về độ số hướng Tây nên sự trấn yểm không được trọn vẹn. Bằng chứng là Sông Tô Lịch vẫn còn tồn tại và chỉ thời gian ngắn sau này nước Việt dã giành được độc lập. Một dải Long mạch đã nói ở trên vẫn phát sinh ra những con người nổi tiếng, những vùng đất địa linh nhân kiệt như chùa Dâu, núi Yên tử, Đền Kiếp Bạc ...Một nguyên nhân nữa sau này, đã phá hoại sự linh thiêng của Long mạch là các việc san lấp của người Pháp, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Không biết vô tình hay hữu ý, khi xây dựng TP.HÀ NỘI, người Pháp đã cho lấp mất khúc sông Tô Lịch, nơi đổ ra sông Hồng - Nay là các phố Hàng Buồm, Hàng Bạc, Cầu Gỗ... Và Nhà thờ lớn HÀ NỘI hiện nay đặt trên nền của Tháp Báo Ân ngày xưa...

Một dân tộc đã được thiên nhiên ưu đãi về Địa linh về Sinh khí phải suy nghĩ như thế nào về trách nhiệm bảo vệ và khai thác sức mạnh tâm sinh khí đó. Chúng ta cần phải có các chương trình đào tạo các bậc anh hùng, hào kiệt, những bậc hiền tài cho Đất nước, những vĩ nhân cho thế hệ mai sau. Ngày trước các bậc Thánh Đế, Minh Vương coi đó là trách nhiệm lớn nhất đối với non sông, đất nước.

3. Tôi xin tiếp tục lý giải câu hỏi thứ 3 :Hậu quả của việc rút bỏ Đạo Bùa đối với khu vực dọc theo sông Tô lịch nói riêng và cả HÀ NỘI nói chung.Số phận của Long mạch sẽ như thế nào ?

Đây là một câu hỏi hết sức khó vì tính chất phức tạp của nó.Người viết xin mạo muội lý giải và rất mong được các bậc hiền tài trong và ngoài Diễn đàn góp ý,bổ khuyết hầu có thể tìm ra biện pháp tốt nhất khắc phục được hậu quả của Lịch sử.Tôi coi đây là trách nhiệm của tất cả mọi người chúng ta .

Trước hết,ta xem xét hậu quả của việc Trấn yểm của Cao biền và những sự việc sẽ xẩy ra khi rút bỏ đạo Bùa đối với khu vực sông Tô lịch và các vùng phụ cận.Hiện nay,tôi không có tài liệu nào chính thức về các biện pháp Trấn yểm đất của bộ môn Phong thủy.Chỉ biết rằng từ xa xưa đã có các hiện tượng trấn yểm của Mã viện ( Trụ đồng Mã viện );các hiện tượng trấn yểm của Cao biền;các biện pháp dùng Bia đá để trấn yểm nhà,các tấm Bài ếm ở quanh khu vực Thất sơn (Cái ếm ở Bài Bài ,thuộc làng Nhơn hưng -Tịnh biên -Châu đốc ,cây ếm ở núi Nước )...
Để có thể hiểu rõ tính chất và hậu quả của việc trấn yểm,ta cần phải biết rõ lý thuyết trấn yểm và từ đó mới có thể khắc phục được tác hại của nó.Từ xưa,việc trấn yểm được coi là Thuật bí truyền của các thày Địa lý ,không được tiết lộ ra ngoài,sợ lộ Thiên cơ.Do vậy mà lý thuyết về sự trấn yểm đến tận giờ phút này vẫn được coi là một cái gì đó huyền bí,ma thuật,không có tài liệu nào được truyền ra.Tuy nhiên theo nguyên lý Thiên -Địa -Nhân là một,ta có thể dùng Lý thuyết của Đông Y để tìm hiểu vấn đề này.Mặt khác,Thuyết Âm Dương,Ngũ hành với cơ sở là Hà đồ,Lạc thư là một công thức siêu Vũ trụ có thể lý giải tất cả các vấn đề từ Vi mô tới Vĩ mô,nó là Công thức Tổng quát của Vũ trụ mà khoa học ngày nay đang ao ước ,tìm kiếm.Tôi sẽ xin trở lại vấn đề này khi có dịp.Bây giờ ta trở lại Lý thuyết của Đông Y về Kinh,Mạch,Huyệt,Lạc là một sự ứng dụng rất cụ thể và phong phú của Thuyết Âm Dương,Ngũ hành.Lý thuyết của Đông Y về Kinh,Mạch,Huyệt ,Lạc rất phức tạp và có từ rất lâu đời,cuốn sách đầu tiên có thể là cuốn Hoàng đế nội kinh,có thời điểm khoảng 5000 năm.Tôi chỉ xin dẫn giải những gì cần thiết để chứng minh cho luận điểm của mình.

HỆ THỐNG KINH, MẠCH, HUYỆT, LẠC.

1/HUYỆT : Là nơi tập trung Khí huyết của Tạng phủ.Là nơi tập trung các cơ năng hoạt động của Tạng phủ.Mỗi Tạng phủ có các đường Kinh,Mạch,Lạc nằm ở những nơi cố định.Những Huyệt lớn gọi là Khổng Huyệt.Những Huyệt bình thường gọi là Huyệt. Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc làm nhiệm vụ dẫn cơ năng Tạng phủ từ trên xuống dưới,từ ngoài vào trong,từ dưới lên trên,từ trong ra ngoài,trong toàn bộ cơ thể con người.Trong cơ thể có một mạch Nhâm,một mạch Đốc,12 đường Kinh chính,cộng thành 14 Huyệt Kinh.có 365 đường Kinh Lạc và 666 đường Kỳ Huyệt.Hệ thống Kinh,Mạch,Huyệt ,Lạc tiếp nhận Thiên khí,Địa khí,Thời khí,có tính chất Âm Dương Ngũ hành.Nhờ hệ thống trên,ta có thể tìm đến các chỗ đường Khí bị tắc mà đả thông cho thuận.Mỗi loại Bệnh tật đều có một số Huyệt liên quan để ta có thể kích thích khi có bệnh.

2/Kinh :Là các đường dẫn Khí từ Huyệt nọ tới Huyệt kia.Các đường đó đi lắt léo,chồng chất qua rất nhiều chỗ;liên đới với các đường Kinh khác theo tính chất Âm Dương ,Ngũ hành,liên vận đến cả với Trời đất mà biến động sự sống,tinh thần con người,vì vậy mà gọi là Kinh.

3/Mạch :Nó là các Nguồn Mạch có Gốc chính đi ra.Nó đi khắp nơi,phân chia ra nhiều chỗ cần thiết,đến tận cùng của mọi nơi và sau lại trở về với chính Gốc.

4/Lạc: Nó là các đường của Kỳ huyệt , nhiều hơn Kinh, Mạch, nhỏ hơn nhiều. Nó đi ngang, tắt ,chằng chịt, chi chít, khó tìm hơn. Nó giúp cho con người điều hòa Tâm sinh lý rất tốt, nó thường hay xuất hiện theo chu kỳ, dùng để định Tâm, an Lạc. Có lẽ vì vậy mà người ta dùng chữ An lạc?

Các đường Kinh lại chia ra các đường Kinh nội và ngoại.
*Nội kinh là phần kinh của 14 đường Kinh,Mạch chính,quan hệ với Tạng phủ,chuyển dần sang các chi nhánh,Kinh Cân Âm và Kinh Cân Dương.Nội Kinh liên quan đến các tương quan,phản xạ,phát sinh Ngoại giao cảm,giữa Linh hồn,Vía,Phách và thể xác.
* Ngoại Kinh :Là những kỳ huyệt để bổ xung cho các Kinh chính ,khi cần thiết dùng cho lúc nguy cấp.Ví dụ cụ thể như :có người đã bị chết lâm sàng,tiêm,chích thuốc theo Tây Y không được,nhưng dùng Đông Y có khi chỉ cần bấm,day,châm,cứu Huyệt thì bệnh nhân có thể sống lại được.Có rất nhiều kỳ Huyệt mà tùy trường hợp có thể hút Linh hồn của người mới chết ,trở về nhập vào cơ thể.Ngoại Kinh bao gồm cả nội quan thân thể.Có nhiều Kỳ huyệt nhạy bén,rất công hiệu,có thể cứu mệnh con người,trong nhiều trường hợp nguy cấp .Đời thường từ xưa đã từng chữa bệnh cứu người bằng phương pháp này,song họ vẫn cho đó là Thần bí.

Tóm lại có 2 Mạch chính là Nhâm,Đốc ;12 đường Kinh chính,15 đường Mạch Lạc,và vô số Huyệt.

Xin nói thêm về Huyệt :Có các Huyệt hợp và các huyệt Giao hội, đó là các giao hội với các Kinh Dương và âm.Có các loại Huyệt là Du huyệt,Mộ huyệt,Nguyên huyệt,Lạc huyệt,Khích huyệt..

Trong Võ thuật còn truyền lại các Huyệt Thần đạo Võ thuật.Theo người viết được biết :Có 36 Huyệt đạo Kinh, nếu vô tình hay hữu ý tác động vào thì bất cứ Huyệt nào trong số 36 Huyệt này đều có thể gây ra chết người .Các Huyệt đó rất nguy hiểm nên còn gọi là tử Huyệt. Ngoài ra còn có 72 Huyệt đạo Kinh phụ. Nếu tác động vào bất cứ Huyệt nào trong số những Huyệt này đều có thể gây tàn phế , tật nguyền, rất khó chữa trị. Đây là yếu hại Huyệt hay còn gọi là Nạn Kinh. Người viết chỉ sơ qua vài nét về Thần đạo Võ thuật cho dễ hiểu thêm về tầm quan trọng của Huyệt với Linh hồn và cơ thể con người. Khi tác động vào tử Huyệt ,các yếu hại Huyệt chính là bất ngờ dùng lực phá hủy hệ thống Kinh , Mạch, làm tan rã các kết nối giữa Linh hồn và cơ thể con người.Các hệ thống khác như Kinh, Mạch, Huyệt, Lạc,gắn kết lục phủ , ngũ tạng của cơ thể lập tức bị rối loạn,mạnh thì dẫn đến tử vong ,nhẹ thì dẫn đến tàn phế,tật nguyền, rất khó chữa trị. Thần đạo Võ thuật gọi là Huyệt đạo kinh có liên hệ đến các Luân xa.

Theo nguyên lý "Con người là tiểu Vũ trụ "thì Âm Dương ,Ngũ hành được phản ánh trong Đông Y rất rõ rệt.Các đường Kinh thứ nhất :Can -Đởm,Tâm -Tiểu trường,Tỳ -Vị,Phế -Đại trường,Thận -Bàng quang là năm cặp đại diện cho Ngụ hành.Ngòai ra còn hai đường Kinh bổ xung là Kinh Tâm bào và Kinh Tam tiêu.Tổng cộng 12 Kinh gọi là đường Kinh chính.Hai đường Kinh Tâm bào và Tam tiêu không có thành phần riêng của mình nên phải lấy từ các thành phần khác làm thành phần của mình.
Mặt khác Kinh Tam tiêu được xem là Cha của các đường Kinh Dương,còn Kinh Tâm bào được xem là Mẹ của các đường Kinh Âm.
Kinh Tâm bào có nhiệm vụ đặc biệt là bảo vệ Kinh Tâm.
Kinh Tam tiêu có nhiệm vụ đặc biệt là làm sứ giả của Mệnh Môn Hỏa.Mang Mệnh Môn Hỏa đến các vùng Thượng tiêu,Trung tiêu,Hạ tiêu.
Các đường Kinh được chia ra làm hai nhánh :Nhánh trái thuộc Dương (đối ứng với bán cầu não Phải ),nhánh phải thuộc Âm ( đối ứng với bán cầu não trái ).

Từ đó các Huyệt được chia ra :Huyệt phía trái thuộc Dương,Huyệt phía Phải thuộc Âm.

Từ Lý thuyết về Đông Y như trên ta theo nguyên lý Thiên -Địa -Nhân hợp nhất rút ra Lý thuyết trong Phong thủy áp dụng cho Long ,mạch như sau:
Thuyết Phong thủy với cả hai phần Âm và Dương trạch quan niệm con người có quan hệ hữu cơ với Trời ,Đất, cả khi sống và cả sau khi chết (Huyệt mộ có thể ảnh hưởng đến nhiều đời con cháu sau này ).

1/Về Thiên :Chấp nhận có Sinh khí giáng xuống (gọi là Dương giáng ) trên các đỉnh núi cao.Thừa nhận ảnh hưởng của các Vì Sao ảnh hưởng đến con người.Sự tương tác của các lực vũ trụ ảnh hưởng theo thời gian,với con người khác nhau.Ảnh hưởng theo chu kỳ của 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời,được đại diện bởi Cửu tinh đồ xoay chuyển theo Quỹ đạo của HÀ ĐỒ (không như quan niệm của cổ văn chữ Hán từ trước đến nay là theo quỹ đạo LẠC THƯ -Khi có điều kiện người viết xin trở lại vấn đề này).Phải chăng 9 Sao và Hạn (La hầu,Thổ tú,Thủy diệu,Thái bạch,Thái dương,Vân hớn,Kế đô,Thái âm,Mộc đức và Tam kheo,Ngũ hộ,Thiên tinh,Toán tận,Thiên la,Địa võng,Diêm vương,Huỳnh tuyền )ảnh hưởng tuần hòan theo chu kỳ sinh học của con người là Đại lượng đo lường ảnh hưởng sự tương tác của 9 hành tinh trong Hệ Mặt trời đối với con người.Còn Cửu tinh đồ là đại lương đặc trưng của sự tương tác các hành tinh trong Hệ Mặt trời với từng cuộc đất.
Ngòai ra còn ảnh hưởng của hệ Nhị Thập Bát tú tới từng cuộc đất.

2/Về Địa :Chấp nhận có Sinh khí (Còn gọi là Long )chảy theo các mạch nước,tụ lại,và THĂNG lên (bởi lẽ Âm thăng,Dương giáng ).Ta thử suy luận một chút về danh từ THĂNG LONG :Đó là khí Âm thăng lên -THĂNG LONG.ĐÂY MớI THỰC LÀ Ý NGHĨA CỦA DANH TỪ THĂNG LONG (chứ không như người ta đồn đại Vua Lý Công Uẩn thấy Rồng bay lên và đặt tên kinh đô là THĂNG LONG ).Ta cũng nói thêm rằng Khí làm cho Kinh đô THĂNG LONG phát triển mạnh mẽ về sau này là Khí Âm -Địa khí .

3/Về Nhân :Có thể xác định được Âm phần,Dương phần,Họa,Phúc,Mệnh,Thân của từng con người.
Bây giờ xin các bạn nhìn lên Bản đồ Việt nam phần Bắc bộ.
Các bạn hãy đánh dấu vào các địa danh sau :Trước hết là các dãy núi cao vút của các tỉnh Lai châu,Sơn la,Hòa bình,tới dãy Tam đảo ,dọc theo sông Tô lịch ngày xưa,đi tiếp tới Cổ loa,kéo dài đến sông Đuống,sông Thái bình,ra tới Quảng ninh và chìm xuống Vịnh Hạ long.Ta nối tất cả các điểm trên thành một đường.Đường cong đó chính là nhánh Thanh long của đồng bằng Bắc bộ.Theo phân tích ở phần trên ta biết rằng Thanh long thuộc Dương.Đây cũng chính là một Long mạch có hành Khí Dương .Các Huyệt nằm trên nhánh Thanh long đều có hành khí Dương.

Bây giờ ta tiếp tục đánh dấu những địa danh sau :Xuất phát cũng từ những dặng núi cao chót vót của các tỉnh Lai châu,Sơn la,Hòa bình ,đi tới dẵy núi Ba vì,qua cầu Hàm Rồng,theo sông Lam và dẵy núi Hồng lĩnh đổ ra biển.Nối các địa danh đó lại thì đường cong đó chính là nhánh Bạch Hổ của Đồng bằng Bắc bộ.Nhánh Bạch hổ thuộc Âm,do vậy Long mạch này có hành khí Âm.Các Huyệt nằm trên nhánh Bạch hổ đều có hành khí Âm

Đến đây ta đã có thể hình dung được hai nhành Thanh long, Bạch hổ của Đồng bằng Bắc bộ. Nhánh Thanh long sau sự Trấn yểm của Cao biền và sau này là sự san ủi của người Pháp đã bị bế Khí rất nhiều.Tuy nhiên do sự sai lầm của Cao biền về độ số của cung Đoài nên sự trấn yểm đó không hoàn thiện.Theo các cổ thư chữ Hán ,cung Đoài có độ số là 7 -ứng với phương Tây .Đây là độ số của Lạc thư.Chính vì vậy mà Cao biền mới Trấn yểm 7 cây cọc,theo đúng độ số của phương Tây.Tuy nhiên ,theo hiểu biết của người viết và kết hợp với một số kinh nghiệm của một số tiền bối về Phong thủy ở vùng đất Phong châu ngày xưa (nay là tỉnh Phú thọ -Kinh đô của các Thời đại Hùng vương ) thì độ số của phương Tây không phải là như vậy.Theo người viết,trong các vấn đề về Phong thủy thực hiện trên trái đất này phải dựa vào Hà đồ và độ số của Hậu thịên Bát quái mới chính xác.Khi đặt độ số của Hậu thiên Bát quái lên Hà đồ ta có một vòng tương sinh theo chiều thuận kim đồng hồ .Theo chiều từ phương Bắc,Đông Bắc,Đông,Đông nam,...tới Tây,tây bắc và trở lại về Bắc ta có các độ số như sau :1-8-3-2-7-4-9-6.
Ta vẩn biết rằng :1 -là hành Dương Thủy.
6 -Là hành Âm Thủy.
8 -Là hành Âm Mộc.
3 -là hành Dương Mộc.
2 -là hành âm Hỏa.
7 -là hành Dương Hỏa.
5 - là hành Dương Thổ.
10 -là hành Âm Thổ.
4 -là hành Âm Kim.
9 -là hành Dương Kim.

Theo chiều thuận kim đồng hồ ta có các hành tương sinh với nhau như sau :Thủy (6-1 )sinh Mộc (8-3 )sinh Hỏa (2-7 )sinh Thổ (10-5 )sinh Kim (4-9 ) và lại trở về hành Thủy.Tôi không đi sâu vào việc chứng minh Lý thuyết trên vì nó khác với tất cả các cổ văn chử Hán từ xưa cho đến tận ngày hôm nay.Điều quan trọng là nếu Cao biền ngày xưa biết được điều này,thì giờ đây có thể chúng ta chỉ còn nghe danh sông Tô lịch trong Huyền sử.

Trở lại vấn đề trên sông Tô lịch,sau khi Cao biền Trấn,yểm dòng sông cứ càng ngày càng nhỏ lại,kết hợp với sự san lấp của người Pháp sau này,dòng sông Tô,trước chảy ra sông Hồng ở cửa Hà khẩu,nay bị chặn lại từ khúc Thụy khê ra tới sông Hồng.Kể từ đó sông Tô lịch phải đổi dòng chẩy ngược lại.Hiện nay sông Tô lịch chỉ còn chẩy từ khu vực Phường NGHĨA ĐÔ -QUẬN CẦU GIẤY -HÀ NỘI,theo thuận dòng chẩy (Ta nhớ lại sự kiện trước Thành Luy lâu có dòng Nghịch thủy ) chẩy ra sông Nhuệ và cuối cùng mới đổ ra lại sông Hồng.Như vậy hiện nay,dòng chẩy của sông Tô lịch đi theo nhánh Bạch hổ đã nêu trên (Thay vì chẩy theo nhánh Thanh long như ngày xa xưa ).Nhánh Thanh long thuộc Dương khí,đã bị ngăn,bế phần lớn nên từ khi đó cho tới nay chỉ có rất ít anh hùng hào kiệt được sinh ra ở khu vực dọc theo đường đi của nó.Ngược lại ,nhánh bạch hổ từ xưa cho đến nay ta chưa nghe có vụ trấn yểm nào được thực hiện,ngòai trường hợp cũng do Cao biền chê là vùng đất Thanh hóa,Nghệ an có một con rồng (Long mạch )nhưng bị què nên không tiến hành trấn yểm.Hai nhánh Thanh long và Bạch hổ có cùng nguồn xuất phát từ Tổ sơn,nay nhánh Thanh long bị chặn lại một phần lớn nên gần như toàn bộ Nguyên khí được dẫn theo đường nhánh Bạch hổ.Theo nhận xét của người viết,kể từ đó về sau này,Thành Đại la bị mất Dương khí nên chẳng bao lâu bị xóa bỏ và thay vào đó là Thành Thăng long được xây dựng dựa trên khí Âm của nhánh Bạch hổ.Ta cũng để ý thấy một điều rất rõ ràng rằng :Trải qua hơn một ngàn năm từ khi có sự Trấn yểm của Cao biền,các vị Vua,tướng tài giỏi,các bậc hiền tài của Đất nước đều có nguồn gốc từ các vùng đất thuộc nhánh Bạch hổ mà ra.Các bạn có thể kiểm chứng điều này qua Lịch sử.

Tới câu hỏi cuối cùng trong bài viết này,người viết tự nhận thấy vượt quá khả năng của mình nên rất mong đợi sự đóng góp của các Cao nhân,tiền bối trong và ngoài nước, ngõ hầu có thể cứu lấy một dòng Nguyên khí của Đất nước.Các câu hỏi đó là :Sau khi rút đạo Bùa Trấn yểm của Cao biền lên,Nguyên khí bị thoát ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với Thủ đô HÀ NỘI nói riêng và Đất nước này nói chung ???Có thể hàn lại Long mạch như Thượng tọa THÍCH VIÊN THÀNH đã làm không ?Khi Long mạch đã được phục hồi sẽ xẩy ra hiện tượng gì tiếp theo ?Có thể lại xẩy ra hiện tượng sụt lở đất như ngày xưa không ?

Còn rất nhiều câu hỏi tiếp theo chủ đề này.Người viết xin tạm dừng ở đây và mong mỏi sự đóng góp của tất cả những người có lòng thương yêu Quê hương xứ sở,thương yêu Đất THĂNG LONG ngàn năm văn vật,là món quà có ý nghĩa mừng Sinh nhật 1000 năm THĂNG LONG -HÀ NỘI.

Trong bài viết,tôi có sử dụng một số Tài liệu của Gíáo sư NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG, ĐOÀN VĂN THÔNG, Ẩn sĩ PHƯỢNG -Nghệ an , Ẩn sĩ Lý Thiên Hương -Đức thọ Hà tĩnh và một số tài liệu của các Ẩn sĩ tỉnh PHÚ THỌ -Xin trân trọng cảm ơn
Tôi đã xác minh lại nguồn tin này;Theo Thượng tọa Thích HUỆ Xướng -Chùa Giác Lâm _Quận Tân bình -TP.HCM :Thượng tọa THÍCH VIÊN THÀNH đã viên tịch khoảng hơn một tháng sau khi làm lễ cúng HÀN LONG MẠCH tại sông Tô lịch,nguyên nhân chết theo Y học là xuất huyết não.Thượng tọa THÍCH VIÊN THÀNH là chủ trì chùa Hương.

Giải thích thêm: Mỗi một Huyệt vị có thời gian đóng và mở riêng của nó -Tức là thời gian ứng nghiệm.Khi muốn tác động vào một Huyệt vị nào đó cần phải đúng thời gian đóng hoặc mở của nó mới có tác dụng.Khi dùng thủ thuật Trấn (đè lên )Yểm (Chôn xuống )cho thay đổi kết cấu của cả một vùng đất để có thể xây dựng cả một Kinh thành thì sự hiểu biết phải vô cùng chính xác.Tiếc rằng kinh nghiệm này không được phổ biến rộng rãi nên thất truyền lần lần . Mà đó cũng là một điều may mắn cho Nhân loại vì nếu ai cũng có thể làm được thì Trái đất chúng ta sẽ đi về đâu?Tuy nhiên trong Lịch sử cũng chỉ ra rằng có rất nhiều ngưởi có khả năng đó.Bạn có thể tham khảo trong các truyền thuyết Lịch sử -Tất nhiên vì chỉ có những người Trấn yểm mới biết,những sự việc được ghi nhận là do kể lại nên mất tính chất trung thực .Tuy nhiên ,không thiếu dẫn chứng trong lịch sử nhắc đi nhắc lại vấn đề đó.

Tôi xin nêu thêm một vấn đề quan trọng có liên quan đến sự Trấn hoặc yểm sau này.Đó là hành Khí của khu vực bị Trấn yểm và độ số của nó.Theo nhận xét của riêng người viết,khu vực đó thuộc phía Tây của La thành nên có hành Khí là Dương kim và độ số của nó là 9.Như vậy ta cũng thấy rằng khi tiến hành trấn yểm,Cao biền cũng biết rất rõ điều đó ,chỉ có sai lầm về độ số của phương Tây .Theo sách cổ chữ Hán đến tận ngày hôm nay,phương Tây thuộc Kim và có độ số theo Lạc thư là 7.Đó là sai lầm cơ bản của cổ thư chữ Hán và tất nhiên khi ứng dụng thì Cao biền sẽ sai theo.Theo người viết được biết,tại một số vùng của đất Phong châu ngày xưa,các nhà Phong thủy vẫn áp dụng tính độ số khi ứng dụng những việc cụ thể trong Phong thủy theo Hà dồ và số của Hậu thiên Bát quái.Như vậy theo người viết,phương Tây có hành Khí Dương Kim và độ số là 9 mới chính xác.Lạc thư và độ số Tiên thiên Bát quái chỉ áp dụng cho những vấn đề có tầm vóc Vĩ mô như khi tính toán các dải Ngân hà,Thiên hà, có tầm vóc Vũ trụ.Để có thể trấn được khu vực bị hở của Long mạch,theo thiển ý của người viết,nên dùng hình thức Trấn -Tức là đè lên vùng bị hở theo đúng quy luật Âm dương Ngũ hành.Ta có thể dựng một cây cầu Sắt có 9 nhịp hay 9 cột sắt,hoặc có cái gì đó có biểu tượng cho số 9 đè lên khu vực đã rút đạo Bùa .Theo những tin tức gần đây nhất,sự phát sinh các việc kỳ lạ như đã nêu ở trên,cũng chỉ gói gọn như những việc đã xẩy ra.Như vây ta thấy rằng Long mạch không còn thoát Khí ra nữa.Nguyên nhân là Khu vực đó qua thời gian bị phong tỏa, bế Khí quá lâu (Gần 1200 năm ),luồng Nguyên khí đã có sự thay đổi,cũng không loại trừ đã có sự trấn,yểm lại của một số nhà Phong thủy tài ba giấu mặt.Tôi từng chứng kiến một vài lần khai mở những Huyệt đạo bị Trấn yểm của các nhà Phong thủy Việt nam ẩn danh.Ta cũng nhận thấy rằng (không biết có phải do trùng hợp hay không ):Kể từ ngày đạo Bùa được Khai mở,vùng dọc theo nhánh Thanh long đã phát triển rất mạnh mẽ.Từ rất lâu đời,các vùng này là khu vực Nông thôn lạc hậu,nay đã vươn mình trở thành hàng loạt khu chế xuất hiện đại.

Sưu tầm ('http://yume.vn/nguyenquochoang_arc/article/giai-thich-bi-an-song-to-lich.35B4E990.html')


Được sửa bởi Admin ngày Tue Mar 06, 2012 5:45 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 179
Join date: 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Thánh vật ở sông Tô Lịch - Part 2   Tue Mar 06, 2012 5:45 pm

Những ngày gần đây tại Hà Nội, ở đâu cũng bắt gặp cảnh người dân hiếu kỳ chuyền nhau đọc báo lẫn tờ phô tô có đăng bài “Thánh vật ở sông Tô Lịch”. Tôi may mắn nắm được khá nhiều thông tin liên quan đến “sự cố” sông Tô Lịch ngày từ đầu. Vậy đâu là sự thực?


Đền Quán Đôi gần đoạn sông Tô Lịch, nơi xảy ra những sự việc được coi là “Thánh vật”

Đó là vào quãng thượng tuần tháng 11/2001, ông Nguyễn Hùng Cường, Đội trưởng Đội thi công 12 thuộc dự án VIC, đơn vị thi công xây dựng tuyến kè sông Tô Lịch gọi điện báo: “Chỗ anh đang thi công phát hiện được nhiều cổ vật, chú xuống xem”.

Tôi là phóng viên đầu tiên được ông Cường thông tin vụ việc này.

Khoảng mấy phút sau, tôi có mặt tại khúc sông Tô Lịch, đoạn đối diện giữa đường Bưởi. Đến nơi, tôi thấy một nửa chiếc máy cẩu xúc bùn nằm bên bờ, một nửa dưới sông.

Đoạn sông này nước vẫn đen ngòm, xung quanh đã được đội thi công cho đóng cọc tre bao để không cho nước vào.

Mấy chiếc tiểu sành, sứ và một vài hiện vật như bát bị sứt, mẻ, vỡ, xương răng động vật được công nhân lấy lên xếp vội trên bờ. Còn những bộ di cốt do máy xúc lấy lên đã được đội thi công đưa đi chôn cất gần đấy (Mãi sau này họ mới đưa lên Bất Bạt).

Cách gần 100 m nơi phát hiện là khu lán xập xệ của đội 12.

Đúng ra, theo luật định, trong quá trình thi công, nếu đơn vị phát hiện hiện vật thì phải giữ nguyên hiện trường, hiện vật và báo với cơ quan chức năng nơi gần nhất để xem xét, xử lý nhưng họ đã làm ngược lại.

Có nghĩa là hiện trường đã bị xáo trộn, hiện vật đã bị mang đi gần hết chỉ còn lại mấy cái tiểu sành, liễn sành, bát vỡ và xương răng động vật.

Sau khi quan sát kỹ hiện trường, trao đổi với những người trực tiếp tham gia thi công đoạn kè này trong đó có ông Nguyễn Hùng Cường, tôi đã viết bài phản ánh phát hiện di vật, cổ vật tại sông Tô Lịch và đề nghị chính quyền và cơ quan chuyên môn vào cuộc.

Thời gian đó, một số cơ quan báo chí đã phản ánh sự việc khá nghiêm túc, thậm chí có tờ báo đứng ra tổ chức cuộc tọa đàm với sự tham gia của một số nhà chuyên môn.

Chỉ một thời gian ngắn sau, sự việc đi vào yên lặng. Về sau, tức sự việc ở sông Tô Lịch đã có độ lùi khoảng một, hai năm thì tôi được ông Nguyễn Hùng Cường cho biết những chuyện xảy ra đối với một số cá nhân trong đội 12, và một số người liên quan.

Những chuyện đó đã được ông Cường viết trên báo trong những ngày gần đây. Thời điểm đó, vì không có cơ sở để kiểm chứng hơn nữa lời kể có vẻ mang tính hoang đường nên tôi đã không tiếp tục phản ánh.

Ngay sau khi báo chí đăng tin phát hiện hiện vật ở sông Tô Lịch, một số nhà khoa học đã đến hiện trường. Dựa trên những lời kể của công nhân đội 12 cộng với hiện trường bị xáo trộn và hiện vật bị phân tán nên khi đó các nhà khoa học này chưa thể đưa ra nhận định.


Bài viết về việc “Thánh vật ở sông Tô Lịch” đăng trên báo Bảo vệ pháp luật cuối tuần

Một thời gian ngắn sau đó, Bảo tàng Hà Nội đã mời một số nhà khoa học lịch sử, khảo cổ đến hiện trường xem xét. Cuộc hội thảo “đầu bờ” diễn ra. Đó là ngày 22/12/2001.

Các nhà khoa học tham dự bao gồm: GS Trần Quốc Vượng, PGS TS Đỗ Văn Ninh, TS Phạm Quốc Quân (Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), TS Vũ Quốc Hiền (Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam);

TS Ngô Thế Phong (chuyên gia khảo cổ học Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), Nhà khảo cổ Phạm Như Hồ (Trưởng phòng Khảo cổ học lịch sử, Viện Khảo cổ học Việt Nam), TS Bùi Văn Liêm (chuyên gia khảo cổ học, Viện Khảo cổ học Việt Nam).

Về phía cơ quan hữu quan của Hà Nội có ông Nguyễn Đức Hòa, Phó Giám đốc Sở VH-TT, TS khảo cổ Nguyễn Thị Dơn, Phó ban quản lý di tích Hỏa Lò, TS Đặng Kim Ngọc, Giám đốc Bảo tàng Hà Nội, đại diện Ban quản lý Di tích danh thắng, Phòng VH-TT quận Cầu Giấy, UBND phường Nghĩa Đô…

Sở dĩ liệt kê danh sách dài như vậy vì để thấy rằng, tuy là cuộc hội thảo khoa học “đầu bờ” nhưng đã có sự hiện diện của những chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành về lịch sử, khảo cổ nhằm đưa ra những nhận định mang tính khoa học chứ không phải giải thích sự huyền bí như có tờ báo đã phản ánh.

Cũng trong cuộc hội thảo này có GS.TS Nguyễn Trường Tiến, Chủ tịch HĐQT Tổng Cty Liên doanh xây dựng VIC, ông Nguyễn Văn Cường, Phó tổng giám đốc Cty VIC, ông Nguyễn Hùng Cường và ông Trần Mạnh Linh, Bộ GT-VT.

Cuộc hội thảo “đầu bờ” đã được ghi thành biên bản với 11 chữ ký và sáu con dấu đỏ, thể hiện sự nghiêm túc trong khoa học.

Sau khi các nhà khoa học, các chuyên gia cùng những người có mặt đi xem xét, khảo sát hiện trường và một số điểm xung quanh, cuộc họp bắt đầu từ 10 giờ 30.

Mở đầu, ông Đặng Kim Ngọc, Giám đốc Bảo tàng thông báo nội dung, tiếp đến ông Nguyễn Hùng Cường kể lại quá trình phát hiện ở đoạn sông Tô Lịch.

Sau đây, chúng tôi ghi lại một số ý kiến của một số nhà khoa học và người trong cuộc từ biên bản cuộc họp để bạn đọc nhận biết:


Rất đông người dân kéo đến Đền Quán Đôi

Ông Nguyễn Hùng Cường: Trong quá trình nạo vét và kè sông Tô Lịch đoạn thuộc địa phận phường Nghĩa Đô thì vào ngày 24/9/2001, đội 12 chịu trách nhiệm thi công đã gặp hiện tượng:

Sau khi đào qua lớp bùn khoảng 40-50cm thì gặp một lớp cát xốp, đồng thời làm xuất lộ 3 cọc gỗ, 3 âu, 2 liễn.

Thấy đây là hiện tượng lạ đồng thời thu nhặt những hiện vật tiền đồng, bát gốm, gạch, dao sắt… cùng một loạt xương. Theo phân loại có 4 bộ xương người và xương động vật.

Đến ngày 4/10/2001 âm lịch, trong khi tiếp tục làm gặp thêm một số cọc gỗ, xen giữa các cọc có một liễn sành. Cho đến trước khi có cuộc họp thì đội đã thu được 7 bộ xương người và đã tìm thấy bộ thứ 8, nằm ở vị trí cách đó khoảng 70-90cm về phía dốc Bưởi.

Đội thi công đã đào lên được một số hiện vật như liễn sành, bát gốm… Những người có trách nhiệm đã cho gửi thông báo đến một số cơ quan chức năng.

GS Trần Quốc Vượng: Giả thiết chúng ta đang ở vào vị trí cửa phía Tây của La Thành mà cổng phía Tây của Hoàng thành… Trước đây, cổng Hoàng thành ngoài lính còn có thần trấn giữ 4 cửa (Thăng Long tứ trấn) và có yểm bùa hay còn làm lễ hiến sinh.

Như vậy, đây là cổng thành phía Tây của La Thành. Ngoài ra, nhìn một cách tổng quát về niên đại của khu vực thông qua tính tương đối nhất giữa niên đại của tiền và đại đa số đồ gốm: bát, hòn kê… cho thấy niên đại của địa điểm này trong khoảng thế kỷ XI cho đến đầu XIV. Niên đại thuộc vào thời Lý-Trần hay thời Tống của Trung Quốc…


PGS.TS Đỗ Văn Ninh: Tôi nhất trí với những ý kiến của GS Trần Quốc Vượng và nói thêm, đây là một trong 6 “ủng môn” còn sót lại duy nhất, khá rõ nét, đáng tin cậy để nghiên cứu về những ủng thành khác đã được nhắc và ghi lại trong một số bản đồ cổ.

Coi hiện tượng này là một hiện tượng trấn yểm mà bất kỳ công trình xây dựng nào cũng phải có lễ trấn yểm, động thổ đặc biệt là đối với một vị trí quan trọng như cổng phía Tây La Thành.


Trích dẫn :
Cũng xin được thông tin thêm rằng, sau cuộc họp này, đơn vị thi công vẫn tiến hành xây kè sông Tô Lịch một cách bình thường và đã hoàn thành như hiện nay.

Trong khoảng thời gian làm tiếp đó, không biết xuất phát từ điều gì mà Đội 12 mời nhiều thầy cúng về lập đàn cúng tế.

Việc làm này cơ quan chức năng không hề biết. Thời gian vẫn cứ trôi đi, sự kiện phát hiện hiện vật ở sông Tô Lịch cũng mờ dần và dường như không ai để ý nữa, báo chí cũng không còn phản ánh.

Thi thoảng, năm tháng hay một năm, ông Cường lại gọi điện cho người viết thông báo chuyện xảy ra này, khác đối với một số người liên quan.

Xong công việc xây kè ở sông Tô Lịch, nghe nói ông Cường sang Lào thi công cho một công trình nào đó.

Và gần đây nhất, khi em gái ông Cường dính vào vòng lao lý trong vụ Cty Bảo hiểm Pjico ở Sài Gòn phải ra hầu tòa nên ông Cường đã nghĩ rằng vì chuyện “ngày xưa” mới gây nên cơ sự mà viết lại nhưng câu chuyện của cái gọi là “thánh vật” chăng?

TS Phạm Quốc Quân: Vấn đề được đặt ra là cần có sự kết hợp giữa Bảo tàng Hà Nội và Bảo tàng Lịch sử xem xét, chỉnh lý khoa học hiện vật. Đồng thời cần kết hợp giữa kinh tế và khoa học, khảo sát theo dõi công trường, đào thám sát nhỏ để đánh giá đúng giá trị của di tích này.

Nhà khảo cổ Phạm Như Hồ: Tôi nhất trí với những ý kiến trên. Tuy nhiên, vấn đề trước mắt là phải tiến hành khai quật tại địa điểm hiện đang nằm dưới lòng sông. Bởi vì, chỉ có như thế mới có những cơ sở kết luận xác đáng được.

GS Trần Quốc Vượng: Hiện tượng có dải cát dài khoảng 200m khác hẳn so với những đoạn sông khác có thể là vào thời Lý do sự hợp lưu của sông Tô và sông Nhuệ đã làm đổi dòng chảy của sông Tô và vị trí chúng ta đang ngồi đây có thể là nơi mà con sông Tô đổi dòng.

Vì vậy, đã tạo cho địa tầng nơi đây bị tụ cát thành một dải như vậy. Sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa hiện tượng sông Tô bị lở do đổi dòng và mắt nhà vua bị đau đã tạo nên một lễ trấn yểm, trong đó có những bộ xương người cùng những hiện vật khác chăng (?).


Cuối cùng, cuộc họp đi đến kết luận: Đề nghị giữ lại ủng thành (đấu đong) dấu tích của di tích liên quan đến thành Đại La. Đề nghị xem xét xếp hạng di tích và giải quyết xâm phạm;

Không tiến hành những hố thám sát khảo cổ trong khu vực hiện đang thi công (nơi có phát hiện khảo cổ);

Trong thời gian thi công tiếp theo nếu phát hiện ra hiện vật khảo cổ mới, Bảo tàng Hà Nội và các đơn vị có liên quan cử người theo dõi và thu giữ đưa về Bảo tàng.

Được biết, sau cuộc hội thảo “đầu bờ” hôm đó, dường như cơ quan chức năng và các chuyên gia, nhà khoa học không còn quan tâm nhiều lắm. Có lẽ, họ nghĩ rằng đây là vấn đề cần được nghiên cứu dài dài về sau.

Mọi chuyện tưởng đã khép lại từ lâu thì tự nhiên có tờ báo đăng tải lại những câu chuyện huyền bí có liên quan đến khúc sông Tô Lịch gây hoang mang cho người dân như là sự “phát hiện” mới trong khoa học.

Nếu trở lại sự việc đó trên cơ sở lý giải bằng nghiên cứu khoa học thì chẳng nói làm gì, nhưng nó lại được thể hiện bằng những trải nghiệm cá nhân của người trong cuộc với những suy luận, gán ghép thiếu căn cứ.

Những tài liệu hiện vật hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hà Nội cần được xem là một cơ sở để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, chứ không thể đưa ra dư luận những câu chuyện huyền bí để làm rúng động dư luận như vậy.

Trich vietbao.vn ('http://vietbao.vn/Xa-hoi/Thanh-vat-o-song-To-Lich-Dau-la-su-thuc/65089814/157/')


Được sửa bởi Admin ngày Tue Mar 06, 2012 5:56 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 179
Join date: 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Thánh vật ở sông Tô Lịch - Part 3   Tue Mar 06, 2012 5:55 pm

Ông Dương Trung Quốc nói về "Thánh vật" ở sông Tô Lịch
Thứ sáu, 20/4/2007, 15:46 GMT+7

Trước những thông tin về chuyện “thánh vật” ở sông Tô Lịch (Hà Nội) khiến cho dư luận có phần hoang mang, lo lắng, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với nhà sử học Dương Trung Quốc, người đã chủ trì cuộc tọa đàm về phát hiện khảo cổ học ở sông Tô Lịch cách nay ba, bốn năm.

- Thưa ông, gần đây có tờ báo kể những câu chuyện được gọi là “thánh vật” ở sông Tô Lịch khiến cho dư luận quan tâm một cách thái quá, thậm chí chuyền tay nhau đọc và bàn tán xôn xao. Ông có nghe thông tin này không và ông có suy nghĩ gì?

- Theo tôi, riêng cái việc dừng từ “thánh vật” trong bài báo cũng đã mang tính báo chí, chủ yếu để gây sự tò mò, thu hút nguời đọc.

Vụ việc này đã diễn ra cách đây mấy năm rồi. Tôi còn nhớ hồi đó báo chí đề cập một cách rất nghiêm túc.

Lúc đầu cũng có những ý kiến khác nhau, và sở dĩ có những ý kiến khác nhau đó mà tôi là người đã được báo Gia đình & Xã hội nhờ đứng ra tổ chức cuộc toạ đàm với sự tham gia của nhiều nhà chuyên môn để hy vọng giải thích sự việc một cách khoa học.

Đương nhiên vào thời điểm này chúng ta không còn ở thời kỳ chủ nghĩa vô thần thô mộc nữa. Chúng ta tin rằng có đời sống tâm linh.

Đời sống tâm linh ấy là một phần giá trị của đời sống thực, nó giúp cho đời sống thực tốt hơn bằng những nguyên lý mang tính đạo đức.

Tôi lấy thí dụ, “Ở hiền thì gặp lành”, “Ác giả ác báo” v.v... Tôi nhớ hồi còn nhỏ, khi đời sống tâm linh phong phú thì người ta sợ quỷ thần hai vai hơn là sợ ông cảnh binh đội sếp.

Thế nên đời sống tâm linh có mặt tích cực của nó. Nhưng cũng không đến mức chúng ta phải vận vào mình một cách không có cơ sở như thế.
Bởi vì, theo chỗ tôi được biết tác giả bài báo ấy là một người trong cuộc, người đã từng tham gia xây dựng tuyến kè ở sông Tô Lịch vào thời điểm ấy, rồi muốn thể hiện, giãi bày mình gặp rủi ro trong đời sống, trong kinh doanh dẫn đến phá sản và giải thích gắn với hiện tượng của khúc sông ấy.

"Tôi là học trò của cố GS Trần Quốc Vượng. Thầy Vượng là nhà khảo cổ, việc thầy giữ một số hiện vật mà do những hoàn cảnh được luật pháp cho phép thì điều đó là rất bình thường. Trên thực tế không chỉ riêng thầy. Thế nhưng vận cái chuyện đó vào thầy và thầy mất sau đó là không có căn cứ vì có hồ sơ bệnh án khoa học. Như thế, trong chừng mực nào đó là xúc phạm đến người đã mất".

Về cá nhân tác giả bài báo ấy chắc cũng không có lỗi gì cả, họ nghĩ thế nào viết như thế, nhưng khi đưa tin không có lời giải thích khoa học, rõ ràng và đặc biệt trong đó người viết mang nặng cảm tính cho nên đã vượt ra khỏi khuôn khổ là những trải nghiệm cá nhân dẫn đến những suy luận mang tính xã hội, liên quan đến người khác. Bởi vậy điều đó là không bình thường.

- Cách đây khoảng 3-4 năm, sau khi đơn vị thi công tại đoạn sông sông Tô Lịch đó phát hiện được nhiều di vật, hiện vật, cơ quan chức năng đã vào cuộc và tiến hành khai quật “chữa cháy”. Lúc đó ông đã đứng ra chủ trì cuộc toạ đàm với sự góp mặt của các nhà chuyên môn để nhận định về sự phát hiện khảo cổ này. Khi đó các nhà chuyên môn đã nhận định ra sao, thưa ông?

- Tôi nhớ hồi đó giới chuyên môn cũng đã đưa ra nhiều hiện tượng về sự cố của đơn vị thi công.
Ngay sau khi phát hiện, những cơ quan có trách nhiệm của Hà Nội cũng đã vào cuộc như Bảo tàng, Sở VH-TT.
Tin rằng, bây giờ tìm lại hồ sơ đều có khá đầy đủ. Khi đó ai cũng thấy rất rõ và được giải thích rằng sự bất trắc của đơn vị thi công tại khu vực đó là bởi ở đây có thể xuất phát từ địa tầng không ổn định do nó nằm giữa nơi hội tụ của ba dòng sông.
Và có lẽ, chính điều đó khiến cho việc khảo sát thiết kế, xây dựng dự án xây dựng tuyến kè không sát với thực tế, dẫn đến thiệt thòi cho doanh nghiệp.
Điều này cũng được đề cập đến trong cuộc toạ đàm. Và nữa, vì là nơi hợp thuỷ của ba dòng sông nên trong quan niệm phong thuỷ cổ điển chắc cũng có yếu tố phong thuỷ.
Nếu quan sát hiện trường mặc dù chưa rõ ràng lắm nhưng cũng có người giả thiết rằng, những dấu vết còn lại cho thấy có một sự yểm nào đó.
Nếu có đi chăng nữa thì cũng rất bình thường trong kiến trúc cổ truyền của người xưa, và nhất là không loại trừ yếu tố của thời kỳ tiền Thăng Long, của thời nhà Đường chiếm đóng, thời Cao Biền.
Thế nhưng, vận nó vào giữa những yếu tố được giải thích dưới góc độ chuyên môn và hiện tượng xã hội gắn liền với vụ việc cụ thể thì tôi nghĩ rằng thiếu căn cứ.
Không ai có thể kết luận được rằng, vì cái vùng đất ấy mà dẫn đến hệ quả mang tính chất thuần tuý là cái sự trả giá về mặt tâm linh.
Còn đương nhiên, nó vẫn là những giả thuyết, chúng tôi tôn trọng những giả thuyết ấy nhưng hồi đó cũng đưa ra những căn cứ khác nhau để cho dư luận xã hội lựa chọn một nhận thức khả dĩ nhất. Sau đấy mọi chuyện cũng lắng dịu.
Việc này không phải không có sự chia sẻ với doanh nghiệp thi công ở đấy nhưng lúc đó không đến mức độ như hiện nay.
Tôi thấy rất nguy hiểm ở chỗ này: Sự trải nghiệm của cá nhân doanh nghiệp ấy chúng ta có thể chia sẻ nhưng sau đó vận vào cái chuyện thí dụ như một lời cầu khấn nào đó có thể mang lại tai họa cho người khác thì khó lòng chấp nhận.

- Trong loạt bài báo vừa rồi, tác giả đã đề cập mang tính ám chỉ chuyện GS Trần Quốc Vượng mất là cũng có liên quan đến việc này. Với tư cách là Tổng thư ký Hội KHLS Việt Nam, ông có ý kiến gì về chi tiết này?

- Việc sở hữu cổ vật hợp pháp, rất nhiều người và những nhà khảo cổ có uy tín như thầy Vượng thì chắc cũng có một số cổ vật do sưu tầm hoặc do người khác tặng để làm cơ sở nghiên cứu.
Rõ ràng đây không phải mục đích bất hợp pháp. Chuyện đó rất bình thường. Cái cổ vật thầy nhận vào thời điểm đó hoặc những cổ vật khác thì cũng như nhau.
Tôi nghĩ rằng vận vào việc thầy bị mất là điều vô căn cứ, phần nào đó đã xúc phạm đến thầy. Chúng ta đều biết, thầy Vượng mất đều có bệnh lý hẳn hoi, có cả một quá trình. Cho nên chuyện đó rất không nên đặt ra trên mặt báo.
Tôi xin nhắc lại là, những gì bản thân người viết bài báo ấy phải trải qua thì ta cũng có thể chia sẻ nhưng cũng không phải là chuyện đưa lên báo vào thời điểm này.
Còn vận vào những chuyện khác mang tính suy luận như thế tôi cho là không nên làm, tạo ra sự hoang mang trong đời sống, vì nó muốn khai thác mặt trái của tâm linh.
Như tôi nói, tâm linh có mặt tích cực để điều chỉnh đời sống xã hội. Còn điều này mang lại sự phân tâm, lo lắng không bình thường cho người dân.

- Là một người dân, khi nhận được những thông tin gọi là “thánh vật” như thế thì ông sẽ nghĩ ra sao?

- Tôi nghĩ, việc này các cơ quan chức năng sẽ thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề này liên quan đến đời sống xã hội rất phức tạp, đa dạng cho nên cần thận trọng khi xử lý.
Điều quan trọng ở đây là vai trò của cơ quan báo chí, đó là mình cần chủ động điều chỉnh nó.
Tôi lấy ví dụ, trước đây cơ quan báo chí cũng đã phản ánh, thậm chí tổ chức toạ đàm mời các nhà khoa học đến, sau đó phản ánh trung thành với phát biểu.
Đó được xem như một biên bản, không đi đến kết luận. Và người dân dựa vào đấy để có những ứng xử hợp lý.
Vụ việc này diễn ra đã lâu rồi và bây giờ bất kỳ ai có thái độ nghiêm túc muốn đề cập đến thì cần tìm đến cơ quan chức năng để nghiên cứu lại hồ sơ.

Xin cám ơn ông!





PGS-TS Phạm Quang Long, GĐ Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội:

Chẳng lẽ Thánh lại vật Phật?
Thứ ba, 24/4/2007, 10:25 GMT+7

Có lẽ quá mệt mỏi trước dư luận về những thông tin huyền bí mà tờ báo nọ đăng tải, lúc đầu tiếp xúc với phóng viên, PGS Long đã từ chối phỏng vấn và cho rằng: "Tôi không biết về chuyên môn, tôi chỉ quản lý văn hoá và lại đang rất bận".

Thế nhưng, có lẽ với trách nhiệm của một nhà quản lý về văn hoá và thông tin của Hà Nội, PGS Long đã có cuộc trao đổi "ngoài chuyên môn" như PGS từng nhắc lại nhiều lần với chúng tôi.


Đoạn sông Tô Lịch cạnh đền Quán Đôi, nơi phát hiện nhiều cổ vật và xương người

Điều đầu tiên, PGS Long nhấn mạnh là "phải kiểm chứng thông tin trước khi đưa, đưa thông tin phải có chủ đích, không chỉ là cho người này người kia kể rồi đưa, gán ghép sự việc rồi không cần biết đến hậu quả của nó ra sao". Trước việc vì sao, cả một thời gian dài hơn một tháng, trên địa bàn Hà Nội người ta chụp các bài báo, truyền tay nhau đọc, rồi bàn luận xung quanh các câu chuyện huyền bí chưa có lời giải mà các cơ quan chức năng không có phản ứng gì.

Rồi PGS Long nói ngay: "Tôi đã nhận khuyết điểm. Đúng là chúng tôi phản ứng quá chậm trước dư luận xung quanh sự việc này".

PGS Long bức xúc: "Nếu nói như họ nói thì chẳng lẽ Thánh lại vật cả Phật. Mà theo Đại Đức Thích Minh Hiền - trụ trì chùa Hương (đệ tử chân truyền của Thượng toạ Thích Viên Thành) thì Thượng toạ Thích Viên Thành có đến sông Tô Lịch đâu. Còn GS Trần Quốc Vượng mất do ung thư vòm họng từ lâu, ai mà chả biết. Thượng toạ Thành, GS Vượng, rồi cả những công nhân của đội xây dựng kia, họ cũng là người tốt cả chứ. Chẳng lẽ Thánh lại vật người tốt?".

Đánh giá về những thông tin trên tờ báo nọ mà ông Nguyễn Hùng Cường kể, PGS Long cho biết: "Về trận đồ bát quái thì tôi xin nói, trừ ông Cường ra, không ai có thể nói như vậy. Vì khi TS Đặng Kim Ngọc được mời đến thì câu chuyện ấy đã xảy ra 10 ngày trước và tất cả những gì người ta nói tới như cọc lim, cốt người, xương thú vật, đồ gốm sứ... cái nguyên vẹn thì không còn ở đó, những cái vỡ, nát thì bày ở trên bờ sông. Làm sao biết được những hiện vật ấy trước đó nằm ở vị trí nào, theo nguyên tắc nào để nói rằng đó là trận đồ bát quái. Ông Ngọc đã rất thất vọng khi ông Cường đã kể trên báo khác với thực tế".


Đền Quán Đôi không liên quan đến "Thánh vật"

Còn việc GS Vượng khẳng định về chuyện trấn yểm, tôi tìm trong biên bản cuộc họp ngày 22.12.2001 của Sở VHTT thì thấy ghi ý kiến của GS là "giả thiết chúng ta đang ở vào vị trí của cửa phía tây của La thành mà cổng phía tây của Hoàng thành thuộc vào vị trí Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh"...

"Trước đây, cổng Hoàng thành ngoài lính còn có thần trấn giữ 4 cửa và có yểm bùa hay còn là lễ hiến sinh... đại đa số đồ gốm như bát, hòn kê... cho thấy niên đại của địa điểm này thuộc vào thời Lý - Trần Việt Nam hay thời Tống Trung Quốc.

PGS Đỗ Văn Ninh cũng đồng tình với GS Vượng và cho rằng có thể coi hiện tượng này "là một hiện tượng trấn yểm mà bất kỳ công trình xây dựng nào cũng phải có lễ trấn yểm, động thổ, đặc biệt là đối với một vị trí quan trọng như cổng Tây của La thành". Như vậy, cả hai ông đều rất thận trọng trong nhận định và cũng chỉ giả thiết đó là hiện tượng trấn yểm khi xây dựng các công trình thôi.



Còn nếu nói đó là huyệt long mạch và trận đồ bát quái do ông Cao Biền đặt ra thì tôi cho là sự tưởng tượng, nếu không cố ý vì những động cơ không lành mạnh thì cũng là "nói ẩu". Vì sao ư? Ông Trần Quốc Vượng nói rồi: "Niên đại của những thứ tìm thấy từ thời Lý - Trần, tương ứng với thời Tống ở Trung Quốc, trong khi ông Cao Biền sống vào thời Đường, trước đó nhiều thế kỷ.

Những hiện vật tìm thấy ở nơi đó có niên đại muộn hơn nên không thể nói đó là nơi ông Cao Biền trấn yểm được. Truyền thuyết và thư tịch có ghi việc làm của ông Cao Biền nhưng cũng chỉ ghi thế thôi. Phải chăng vì thế mà có người đã "đoán đại" ra thế?".

Có 4 chuyện ông Cường nói, tôi kiểm tra được đều thấy sai. Đó là nguyên nhân cái chết của 2 người nổi tiếng, chuyện mời ông Ngọc là Giám đốc Bảo tàng Hà Nội đến "ngay khi" phát hiện ra "trận đồ bát quái", chuyện ông ta mời cố Hoà thượng Thích Viên Thành làm lễ trấn yểm và những lời có tính chất giối giăng của cụ.

Còn những chuyện khác, không kiểm tra được nên tôi không bình luận. Nhưng 4 chuyện lớn này đều sai cả thì khó nói tới những chuyện khác".

Khó có thể nói đây là nơi yểm

TS sử học Đặng Kim Ngọc - một trong hai người đầu tiên trong ngành khảo cổ học đến hiện trường - đã đưa ra những luận chứng để cho rằng, nơi này khó có khả năng là nơi yểm bằng hình bát quái. Ông cũng cho rằng, hiện chưa có nhà sử học nào có thể nói được việc yểm cần những gì và có những thủ tục nào.


Người dân đến lễ tại đền Quán Đôi

Những ý kiến không thống nhất

Sau khoảng 10 ngày phát hiện được hiện vật cổ thì đơn vị thi công mới thông báo cho Bảo tàng Hà Nội. Ngay sáng hôm sau, Giám đốc Bảo tàng Hà Nội - TS Đặng Kim Ngọc cùng TS Bùi Văn Liêm ở Viện Khảo cổ đã đến hiện trường. Đây cũng chính là những người đầu tiên trong ngành sử học đã đến đây.

Về những nhận xét đầu tiên, ông Ngọc cho biết, đội thi công sử dụng máy xúc lại chủ yếu làm vào ban đêm. Do đó, lúc hỏi những người làm trực tiếp tại đó khi tiếp xúc với các cọc gỗ như thế nào, mỗi người nói một cách khác nhau. Do đó, không thể đưa ra được đánh giá các cọc gỗ ở vị trí nào ở lòng sông. Vì vậy khó nói được các cọc gỗ đó là cọc được sử dụng để yểm.

Vậy lý giải như thế nào với các cổ vật, những cọc gỗ, những xương người, xương động vật xuất hiện rất nhiều ở đây? Tại cuộc hội thảo "đầu bờ" ngày 22.12.2001, lần lượt GS Trần Quốc Vượng và GS Đỗ Văn Ninh đã cùng đưa ra giả thiết có khả năng ở vị trí này có trấn yểm, nhằm xua đuổi ma tà ở phía tây thành Đại La (thời Cao Biền - thế kỷ thứ IX). TS Đặng Kim Ngọc cho biết thêm, hai GS Vượng và GS Ninh thuộc số rất ít người được khảo sát thành Thăng Long ( thời Lý Công Uẩn, thế kỷ thứ XI) phát lộ khi đào móng xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thời đó, hai ông cũng nhận định có dấu hiệu trấn yểm cho thành Thăng Long ở vị trí này. Nhưng cũng tại hội nghị "đầu bờ" đó, có hai luồng ý kiến không đồng tình với quan điểm của hai GS Vượng và GS Ninh.

Ông Phạm Như Hồ - Trưởng phòng Khảo cổ học lịch sử, Viện Khảo cổ - cho rằng có nhiều khả năng đây là nơi tập trung phế thải của cư dân quanh vùng. Còn ý kiến của TS Đặng Kim Ngọc nhất trí với các ý kiến đây là địa điểm giao nhau giữa 3 con sông Tô, sông Nhuệ và sông Thiên Trù (hiện sông này không còn tồn tại). Nhưng điểm khác biệt là, TS Ngọc cho rằng, chính sự hợp thuỷ của 3 con sông này đã tạo ra ở đây những dòng chảy xiết, tạo xoáy mạnh đã hút các đồ vật, kể cả xương người, xương động vật về đó.

Khó có thể nói đây là nơi yểm

Khi trao đổi với chúng tôi, TS Đặng Kim Ngọc đưa ra một số luận chứng để nói rằng, rất khó có khả năng ở đây có việc yểm bằng hình bát quái.

Thứ nhất là về hiện vật, phần lớn chúng có niên đại từ thời Lý- Trần - Lê (từ thế kỷ XI- XV) kéo dài khoảng 500 - 600 năm. Như vậy, không có khả năng các đời rất xa nhau cùng yểm một chỗ và làm chồng lên nhau như vậy.

Thứ hai, phạm vi thành Đại La thời kỳ đó còn rất nhỏ. Theo nghiên cứu của các nhà sử học, chu vi của thành Đại La chỉ khoảng từ 7- 8km. Thành khi đó có 3 vòng bảo vệ và phía tây của thành Đại La ở vòng ngoài cùng khi đó còn cách chỗ được ông Nguyễn Hùng Cường - đội trưởng đội thi công số 12 - cho là có yểm (ở sông Tô Lịch) khoảng 2 - 3km đường chim bay.

Năm 2002, chúng ta đã phát hiện ra tường thành phía tây thành Thăng Long thời Lý - Trần nằm ở dưới đường Trần Phú (khi thi công đường phát hiện ra). Do đó, khả năng yểm bằng bình đồ bát quái ở tại vị trí gần đền Quán Đôi (bên sông Tô Lịch, Hà Nội) hiện nay là rất khó xảy ra, vì nếu có yểm để trừ ma tà thì người ta phải yểm ở thành, chứ không thể yểm ở ngoài thành.

Đền Quán Đôi không liên quan đến "Thánh vật"

Chiều 23.4, bà thủ từ của đền Quán Đôi đã không ngần ngại khẳng định với rằng: Chuyện "Thánh vật" ở bờ đối diện bên kia sông chẳng liên quan gì đến ngôi đền đã có từ thời Lý này.

Trông mà thấy ngán...

Bà thủ từ Nguyễn Thị Chiển (hơn 70 tuổi) đã trông giữ ngôi đền trên 20 năm.


Bà Thủ từ đền Quán Đôi.

Theo thần phả, đền thờ Hậu lý mẫu nghi và con trai là Thái tử thống hoàng đế. Bên phải điện thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo đại vương, các cụ thờ thế nào thì nay tiếp tục thờ như vậy.

Năm 2003 tôn tạo đền, nhân dân địa phương đã đưa thêm tượng Cụ Hồ vào thờ ở gian bên trái điện. Theo bà Chiển: "Sự việc xây kè diễn ra đã lâu từ năm 2001, đúng là đoạn này rất khó làm, đơn vị thi công đã phải làm đi làm lại nhiều lần. Khó làm vì lý do gì thì tôi không giải thích được, chỉ có các nhà khoa học mới giải thích được".

Trả lời câu hỏi: "Khi đội xây dựng số 12 của ông Nguyễn Hùng Cường thi công kè đoạn sông này và phát hiện ra nhiều xương người và nhiều cổ vật, họ có nhờ đền giúp đỡ gì không?" - bà Chiển khẳng định: "Không, chả liên quan gì. Họ tổ chức làm lễ bên kia sông (bên đường Bưởi), bên này chả liên quan gì. Chỉ ngán hộ người ta thôi!".

Khi PV hỏi sao lại bác lại "ngán", bà Chiển cười vui bảo: "Họ làm xong là lại vỡ, lại vỡ. Sau đó thì họ mời thầy đến tế lễ. Chỉ có điều sau khi họ tế lễ xong, họ cũng thay đổi phương pháp thi công. Họ dùng máy nén đóng những tấm thép dày xuống, liên kết với nhau thành bức tường thép, thế là hết sụt lún. Sự việc là thế, từ đó đến nay bẵng đi, ở đây không hề thấy gì.

Về "Thánh vật" ở sông Tô Lịch thì tôi chỉ nghe người ta kéo đến đây lễ nói thế thôi. Những người đến lễ cũng bảo là người ta đọc báo rồi tìm đến thôi".

"Thánh vật" và lễ đền: Hai cái khác nhau

Đó là khẳng định của những người dân ở đầu cầu T11 dẫn vào khu vực làng An Phú cũ. Một bác trung niên người địa phương, cựu bộ đội, 58 tuổi, đã nhiệt tình kể sự thật về chuyện ông Cường xây kè bờ sông như thế nào, nhưng dứt khoát không cho biết tên với lý do: "Bây giờ dân người ta tin báo chí, kéo đến đây ầm ầm, tôi lại bảo là không có, thành cãi nhau mệt lắm. Chuyện anh Cường tin vào ma quỷ bát quái thì là chuyện của anh Cường, tôi chỉ thấy đáng trách là các vị báo chí sao làm um lên. Thực tế là không có chuyện gì đâu. Hồi trước thi công đoạn sông này, giờ này (khoảng 15 giờ) tôi vẫn ra sông chơi, xem thi công. Tôi nói thật làm ẩu, không đến nơi đến chốn lại gặp phải nền đất yếu".

Chỉ cho PV thấy bờ bên kia sông Tô Lịch, bác trung niên bảo: "Anh nhìn kìa, chân bức tường bên kia sông đã nứt cả ra kia kìa".

Cũng như bà Chiển kể, nhiều người dân ở đây khẳng định, sau khi tổ chức tế lễ ở bên kia sông thì đơn vị thi công cũng thay đổi biện pháp thi công. Một bác trung niên khác - làm nghề sửa quạt - khẳng định: "Áp dụng khoa học kỹ thuật vào là làm được thôi. Chẳng có ma quỷ gì!".

Chị Đàm Phương Hồng (41 tuổi) - ở tổ 26 cũ, phường Nghĩa Đô - đã đặt ngay câu hỏi với phóng viên: "Nãy giờ thấy anh phỏng vấn, lấy tư liệu thì anh thấy những gì? Anh nghĩ thế nào và định viết những gì?".

Sau khi nghe cam kết sẽ phản ánh trung thực ý kiến của người dân, chị Hồng cười bảo: "Từ bé tôi lớn lên có thấy gì đâu! Trước nước sông chưa ô nhiễm nặng, người ta còn nuôi rau muống ở trên sông, cả ở đoạn bảo có "Thánh vật" ấy chứ.

Những năm 1979 - 1980, người ta cũng đã nạo vét, khơi rộng sông, mà có thấy Thánh vật gì đâu?". Chị Hồng bảo: "Giờ tự nhiên thấy người ta đến dồn dập thì ra bán hàng thôi".

(trích "http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/myImages/15/2007/04/24/tolich1.jpg")





Xung quanh chuyện “Thánh vật ở sông Tô Lịch”, GS Trần Lâm Biền:
“Không hề tìm thấy hiện tượng trấn yểm nào trong lịch sử”

Thứ ba, 24/4/2007, 08:19 GMT+7

Trước những thông tin, tình tiết được báo Bảo vệ Pháp luật Cuối tuần đề cập trong loạt bài Thánh vật ở sông Tô Lịch khiến cho nhiều người bán tín, bán nghi, chúng tôi đã tìm đến GS Trần Lâm Biền - Nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa truyền thống - để mong có được lời giải thích thỏa đáng.


GS Trần Lâm Biền

GS Trần Lâm Biền nói:
Nhận thức chung trên thế giới, trong đó có Việt Nam về thế giới bên kia chủ yếu dựa trên nghiệm chứng, “bất khả tư nghị” (không thể luận bàn được). Vì thế, người xưa không luận bàn về vấn đề này.
Bởi vậy, mọi lý luận về nó cho đến nay thường dựa vào ý chủ quan của cá nhân.
Đương nhiên, chúng ta vẫn tôn trọng những ý kiến nghiên cứu của những người quan tâm tới vấn đề với phương diện hay góc độ “giả thiết để làm việc”.

Vậy cái gọi là Thánh vật ở sông Tô Lịch có phải là một ngoại lệ, thưa ông?

Từ sự nhìn nhận bằng quan điểm đó chúng ta quan tâm tới hiện tượng như báo Bảo vệ pháp luật Cuối tuần đã đề cập trong thời gian gần đây thông qua những câu chuyện, những ý kiến được coi là của người trong cuộc, “ngoại cảm” cũng chỉ dừng lại ở mức độ là hiện tượng thôi.
Trong tất cả những hiện tượng đó hầu như đều chưa được kiểm nghiệm bởi những tổ chức chuyên môn và có trách nhiệm nên việc sớm “công bố” những tình tiết huyền bí đó nhiều khi mang tính mê hoặc xã hội và chứa đựng yếu tố tiêu cực cao hơn là bản chất khoa học của vấn đề. Nó không có một ngoại lệ nào cả.

Ông nhìn nhận thế nào về hiện tượng ở sông Tô Lịch?

Chúng ta cũng đã từng thấy có hiện tượng nhiều người xuống giếng đã bị chết. Nhưng, để lý giải được cái chết đó và tránh được những đồn thổi thiếu căn cứ thì các nhà khoa học tự nhiên đã vào cuộc đồng thời có sự giải thích rõ ràng.
Vậy, vấn đề hay còn gọi là hiện tượng ở sông Tô Lịch mà gần đây báo chí giật tít là Thánh vật ở sông Tô Lịch khi chưa có đầy đủ các cơ quan chức năng tham gia nghiên cứu, lý giải bằng cơ sở khoa học thì sự tuyên truyền một chiều như vừa qua cần phải được xem xét ý đồ đằng sau của người viết.
Một điểm cụ thể là, việc cố GS Trần Quốc Vượng bị ung thư thực quản phải nằm viện trong nhiều tháng, được các y, bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng không qua khỏi bị đồng nhất với hiện tượng “ma ám” do cầm một số hiện vật là điều không thể chấp nhận được.
Mặt khác, những rủi ro của xã hội cũng không nên vận vào với việc thần linh ở sông Tô Lịch. Sự “liên kết này” có thể đã làm méo mó nhận thức của một bộ phận quần chúng đối với những tiêu cực nảy sinh trong cơ chế thị trường hiện nay.
Đồng thời sự gán ghép ấy vô hình trung khiến cho không ít người nghi ngờ thế lực của thế giới bên kia, kèm theo nghi ngờ lời dạy của tổ tiên. Vì người xưa (theo bia chùa Bối Khê, thế kỷ 15- Thanh Oai, Hà Tây) đã từng chỉ ra rằng, anh tú của đất trời là sông núi, anh tú của sông núi thần linh.
Thần linh là vẻ đẹp thánh thiện, đem mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi đến với thế gian. Vậy, những thông tin như báo Bảo vệ Pháp luật Cuối tuần đã đăng phần nào đi ngược lại nhận thức bản sắc văn hóa của dân tộc.

Với tư cách là nhà nghiên cứu lâu năm về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống, ông có cho rằng trong lịch sử có hiện tượng trấn yểm không?

Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa truyền thống của Việt Nam rất khó tìm thấy sự tai ác trong việc dùng người để yểm của thời quá khứ.
Và hiện tượng này hầu như không gặp, trong bất kể di tích kiến trúc, nghệ thuật lẫn di tích khảo cổ học, đồng thời cũng không tìm thấy ở một số nghĩa trang cổ.
Người ta chỉ thấy được hiện tượng tại nghĩa trang của người Mường cổ ở Đống Thếch (Hòa Bình) với trung tâm là một mộ lớn có kết cấu hầm, buồng. Xung quanh đó là mộ cắm đá của người khác.
Đã có nhiều ý kiến về hệ thống mộ này nhưng không hề thấy có hiện tượng trấn yểm hay yểm bùa. Vậy thì, nếu ở khúc sông Tô Lịch đó có cái gọi là trấn yểm, yểm bùa thì các nhà nghiên cứu phải giải thích bằng được, rằng hiện tượng yểm bùa này để làm gì, bắt nguồn từ đâu?
Cũng đã nghe một số ý kiến rằng người xưa, thời Bắc thuộc có trấn yểm, yểm bùa nhưng khi hỏi bằng chứng hiện vật thì ai nấy cũng đành chịu. Do vậy, để trả lời có hay không thì phải có sự nghiên cứu đa ngành, liên ngành thì mới mong có được những nhận định mang tính khoa học.

Nghe nói ở sông Tô Lịch có vị thần cai quản?

Mỗi một con sông đều có một vị thần, cụ thể ở sông Tô Lịch có ông Tô Lịch. Ngày xưa, xung quanh sông Tô Lịch có nhiều đền, đình thờ ông Tô Lịch (thời Bắc thuộc) làm Thành hoàng làng.
Khi nhà Lý với sự phát triển của mình bằng kinh tế nông nghiệp thì người ta lại nhập thần Linh Lang vào con sông này. Vì thế, hiện nay nhiều đền thờ dọc sông Tô Lịch có thờ thần Linh Lang để phù trợ cho người dân có mùa màng tốt tươi, cuộc sống ấm no, yên bình.
Đứng ở góc độ người dân bình thường, ông có khoảng bao nhiêu phần trăm tin vào chuyện “thánh vật”?
Tôi thật sự không tin mặc dù là người nghiên cứu sâu về tín ngưỡng, tôn giáo. Sở dĩ nói như vậy là bởi ẩn nấp ở đằng sau cách viết của tác giả là hình thức mê tín dị đoan. Nó đánh đúng vào nhu cầu sẵn có của một bộ phận quần chúng.

Xin cám ơn ông.

PGS.TS Đỗ Văn Ninh (Viện Sử học):

Những chuyện ông Cường kể là bịa đến 90%

Tôi rất lấy làm lạ là ai đó đã “phát động” nên chuyện này. Tôi tưởng rằng mọi chuyện hồi đó đã dừng lại từ lâu, và người ta đã xây dựng kè sạch đẹp cho người dân đi dạo, nào ngờ lại “thành chuyện” như hôm nay.

Ngay từ ngày đó, tôi đã nói rằng tôi không tin có trấn yểm. Vì việc trấn yểm đã lụi tắt từ trước CN rồi. Trong sử sách từ Lý - Trần và mãi sau này có thấy ai viết về trấn yểm.

Thời xưa người ta chỉ trấn yểm ma tà bằng những loài động vật như rắn, ngựa, bò, trâu… chứ có trấn yểm bằng người đâu. Ông Nguyễn Hùng Cường nói có thấy hình bát giác. Theo tôi hiểu là ông ta định nói tới trận đồ bát quái tại khúc sông này.

Nhưng xin thưa, ngày đó, tôi đếm thì chưa đến 8 cột gỗ do máy xúc lấy lên từ sông (tôi nghi ngờ là mấy cột gỗ này được đóng xuống để kè sông). Cột gỗ dài nhất cũng chỉ vài mét.

Hơn nữa, hôm đó các nhà khảo cổ có ai dám lội xuống sông Tô Lịch đen ngầu để kiểm tra xem có phải là bát quái không.
Chỗ khác, ông Cường lại nói là phát hiện được 8 bộ di cốt người. Khi chúng tôi đến đã đem đi chôn rồi. Vậy thì dựa vào đâu để ông Cường xác định là 8 bộ di cốt.

Ngành khảo cổ chúng tôi muốn nhận định đấy đúng là một bộ di cốt người, nam hay nữ thì còn phải nghiên cứu chán, các nhà nhân chủng học phải đối chiếu, so sánh nghiên cứu mới đưa ra được kết luận. Còn nữa, dựa vào đâu để xác định niên đại là sáu, bảy trăm năm.

Xác định niên đại đâu phải dễ, dựa vào hiện vật chỉ là một phần còn phải kiểm tra đủ thứ nữa mới có kết quả chứ. Cho nên nói vậy là thiếu căn cứ.

Còn nhớ ngày đó, tôi và TS Vũ Quốc Hiền đi khảo sát một vài điểm xung quanh, khi phát hiện ra chỗ này thì tôi cùng TS Hiền đi khảo sát một vài điểm gần đó và đã phát hiện một ngôi mộ.

Không phải là nhận định nữa, cách đây vài chục năm, bờ bên này của sông Tô Lịch rộng lắm, cây cối xum xuê nên người ta thường tổ chức chôn cất người thân sau khi mất.

Sau này có kế hoạch mở rộng nên nhiều ngôi mộ phải bốc đi nơi khác. Từ thực tế đó cộng với lịch sử ghi nhận sự đổi dòng của dòng sông Tô và khi mùa lũ về nên rất có nhiều khả năng là không ít ngôi mộ ở trên bờ bị sạt lở xuống sông.

Cũng vì thế, những di cốt người phát hiện ở chỗ đấy là do sạt lở ở trên bờ mà thôi. Nói tóm lại, những chuyện anh Cường kể là bịa đến 90%.
(trích " http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/myImages/15/2007/04/24/tolich1.jpg")






GS.TS Đỗ Quang Hưng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam):

Nói đến vấn đề tâm linh phải khách quan

Chuyện tâm linh hay một niềm tin đặc biệt nào đó nó luôn biến đổi và ngày càng phức tạp. Nhưng dù gì đi chăng nữa thì chúng ta cũng phải nên tôn trọng nó.

Tôi đồng tình với quan điểm của nhà sử học Dương Trung Quốc, rằng trong đời sống tâm linh có những mặt tích cực của nó để góp phần cho xã hội ngày càng tốt hơn.

Thế giới tâm linh từ Á sang Âu đang trở thành vấn đề của nhân loại, có liên quan mật thiết, gần gũi với đời sống tôn giáo. Trong cái thế giới ấy, có những điều có thể thấy ngay, nhận thức ngay được nhưng cũng có những điều cần phải tiếp tục nghiên cứu.

Tôi lấy thí dụ, người ta bảo có hồn, nhưng người khác lại bảo không có. Cho nên nghiên cứu về đời sống tâm linh thực sự rất khó. Vì vậy, cũng phải ghi nhận những tình tiết đó để xem xét, nghiên cứu, nhất là ở khúc sông Tô Lịch đó có liên quan đến không gian, văn hóa lịch sử Hoàng thành Thăng Long.

Hiện nay đời sống tâm linh phong phú đang quay trở lại. Một số cũng tin vào điều đó nhưng cũng có không ít người không tin. Vấn đề nằm ở chỗ phải tiếp tục nghiên cứu.

Nhưng trong khi giới khoa học chưa thể khẳng định, kết luận chuyện đó là A hay là B thì không nên phản ánh như thế. Bản thân tâm linh là cái hộp đen mà người ta đang nghiên cứu.

Anh phản ánh, tuyên truyền điều gì liên quan đến tâm linh thì phải hết sức khách quan và cần tôn trọng nó. Anh có thể chia sẻ những trải nghiệm cá nhân chứ không thể đưa ra kết luận để mà dấy lên điều gì đó. Như thế là không được.

Trong đời sống tâm linh có mối quan hệ với môi trường xã hội dân sự. Khi những thông tin về tâm linh chưa được nghiên cứu, kiểm chứng mà vội tuyên truyền thì ngay lập tức ảnh hưởng đến môi trường xã hội.

Tôi lấy ví dụ, bây giờ giả sử UBND thành phố cho nạo vét lòng sông để tăng lưu lượng dòng chảy, làm cho nước sạch hơn thì cũng sẽ bị thánh vật và không làm nữa hay sao? Và khi thông tin chưa được kiểm chứng mà bị lan truyền rộng thì trở thành thứ siêu hình.
Cuộc sống là một dòng chảy liên tục trong đó có cả xã hội dân sự và đời sống tâm linh. Nhưng trong cuộc sống đó không thể đề cao yếu tố nào hơn yếu tố nào mà cần phải có sự hài hòa





Người bị "Thánh vật" nói gì?
Thứ tư, 25/4/2007, 08:26 GMT+7

Hôm qua (24/4), chúng tôi đã tìm gặp ông Nguyễn Hùng Cường - tác giả bài báo “Thánh vật ở sông Tô Lịch” gây xôn xao dư luận trong thời gian qua. Những vấn đề gây nghi ngờ về độ chân thực trong bài viết của ông Cường đã được đặt ra thẳng thắn.

Ngày càng có nhiều người đến lễ ở hai cây gỗ tại Đền Quán Đôi
_ Có ý kiến cho rằng “những chuyện ông Nguyễn Hùng Cường kể là bịa đến 90%”. Ông nghĩ thế nào về chuyện đó?


_ Nhiều người dân làng An Phú (nơi có khúc sông này) cũng được mắt thấy tai nghe. Lẽ nào tôi lại đem chuyện tôi và gia đình bị ốm đau, bệnh tật, chết chóc, tù tội ra làm trò đùa, đắc tội với người quá cố.
Thêm nữa, theo tôi, trong câu chuyện này, có thể còn những yếu tố địa chất, địa lý, kỹ thuật thi công... mà chúng tôi chưa lường hết được.

Trong gia đình ông có một người (bà Nguyễn Thị Bích Hợp) bị vướng vào vụ án Trần Nghĩa Vinh - Tổng Giám đốc Cty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) có hành vi tham nhũng chiếm đoạt tài sản Nhà nước, đưa và nhận hối lộ. Ông có định nhân dịp này thanh minh cho bà Hợp?

Đến nay, tôi vẫn nghĩ rằng, tôi và gia đình mình gặp những hậu quả rất nghiêm trọng từ việc đụng phải trận đồ bát quái đó. Còn chuyện của em gái tôi (Nguyễn Thị Bích Hợp) là việc của đời sống hôm nay, chịu sự quy định của luật pháp hiện hành.
Tôi nghĩ, em tôi có sai phạm đến đâu thì các cơ quan pháp luật sẽ kết luận, xử lý đến đó, tôi có bênh cũng chẳng được.


Một số hiện vật đào được từ đoạn sông Tô Lịch

Vậy ông viết chuyện “Thánh vật” tường tận như thế để làm gì?

Viết những điều đó ra, tôi muốn được bạn đọc cùng tôi chia sẻ những điều đã xảy ra với tôi, cùng chia sẻ đời sống tâm linh và quan niệm, văn hóa phương Đông.
Theo tôi được biết, qua sách vở và qua tiếp xúc với nhiều nhà khoa học thì nơi chúng tôi thi công là một di tích của thành cổ La Thành mà chúng ta phải tôn trọng. Khi phát hiện được các di vật lịch sử dưới lòng sông, tôi đã giao cho anh em công nhân trong đội (tôi làm Đội trưởng) gom nhặt và báo cho các cơ quan hữu quan, trước hết là Bảo tàng Hà Nội (chỉ tiếc rằng chúng tôi báo cáo hơi chậm).
Việc chúng tôi báo chậm cũng có lý do khách quan. Chúng tôi vừa thi công vừa lo lắng, không hiểu sao, vì chúng tôi chưa gặp chuyện kỳ lạ đáng sợ như thế bao giờ.


Ông Nguyễn Hùng Cường

Tôi vốn người vô sư vô sách, cũng có tổ chức cúng lễ trước khi khởi công, nhưng cứ tưởng hương khói sơ sơ là ổn rồi. Nào ngờ, khi đào lên gặp toàn những thứ đáng kinh hãi, chúng tôi mới biết mình đã gặp chuyện rất hệ trọng.
Khoảng ngày 23 – 24/9/2001, ngay sau khi đào được di vật (cọc gỗ, đồ gốm, sứ, xương người và động vật...), tôi đã yêu cầu anh em trong đội thu lượm đầy đủ, rồi báo cáo lãnh đạo Cty và xin ý kiến. Nhưng chờ mấy hôm không thấy lãnh đạo Cty cho đường hướng giải quyết thế nào; trong khi đó nhiều người nói đây có thể là một trận đồ bát quái từ xưa và liên quan chuyện tâm linh...
Ngày 4/10/2001, sau khi biết chắc các hiện vật chúng tôi đào được là đồ cổ vô giá, tôi đã tìm số điện thoại và báo cáo với Bảo tàng Hà Nội. Ông Đỗ Kim Ngọc, Giám đốc Bảo tàng Hà Nội là người đầu tiên ngoài công ty chủ quản nghe tôi báo cáo.
Ngày 4/10/2001, ông Ngọc dẫn một số cán bộ tới hiện trường và chúng tôi đã đề nghị ông Ngọc đem các di vật đó về Bảo tàng Hà Nội.

Trong bài viết ông có nêu một số chi tiết khiến người đọc thấy nghi ngờ tính chân thực của sự việc. Đó là: Thượng tọa Thích Viên Thành có mặt tại một buổi lập đàn tế lễ đó và sau đó chết vì “Thánh vật”; GS Trần Quốc Vượng bị “Thánh vật” vì giữ đồ cổ nghiên cứu; ông Đỗ Kim Ngọc (Giám đốc Bảo tàng Hà Nội) được tin báo ngay sau khi đội thi công của ông đào được các di vật đó. Vậy ông có thể nói rõ hơn về việc này không?

Về cái chết của Thượng tọa Thích Viên Thành, tôi không có cơ sở để giải thích vì sao. Tôi chỉ biết, sau khi nghe thỉnh thị của chúng tôi, thầy Thích Viên Thành đã đến hiện trường lúc đó. Thầy đặt la bàn xuống đất, cho hai đệ tử căng dây đo, thấy kim la bàn quay tít, không chỉ được rõ đâu hướng Bắc đâu hướng Nam.

Thầy nói: “Tôi đến đây nhìn thấy nhiều âm khí nặng nề, u ám quá. Bác hãy cùng anh em đang làm việc ở đây hết sức cẩn thận trong khi thi công. Đây là trận đồ bát quái ai đó lập nên để chặn long mạch...”.
Tôi nhờ thầy ra tay cứu vớt những kẻ vô tội như chúng tôi. Thầy hẹn ngày tôi lên chùa nơi thầy trụ trì để thầy hướng dẫn lập đàn tràng hóa giải. Hôm lập đàn tràng, thầy cho một số đệ tử về chứ thầy không về.
Trường hợp GS Trần Quốc Vượng, tôi không dám khẳng định ông bị “Thánh vật”. Theo tôi, đây là vấn đề tâm linh, chỉ có thể ghi nhận bằng cảm quan từng người. Trường hợp ông Đỗ Kim Ngọc (Giám đốc Bảo tàng Hà Nội) được chúng tôi báo cáo sớm muộn đến đâu thì như tôi đã nói trên.


Đoạn sông Tô Lịch - Nơi ông Cường đã kể nhiều chuyện khó tin





PGS. TS Nguyễn Lân Cường: "Nếu có chuyện Thánh vật, tôi đã chịu đầu tiên"

Chuyên gia khảo cổ, PGS. TS Nguyễn Lân Cường, cho rằng, không thể có chuyện trấn yểm tại đây, vì mục đích yểm để bảo vệ, chứ không phải làm chết người.

- Là một chuyên gia khảo cổ, ông nghĩ sao trước những thông tin huyền bí về sông Tô Lịch?

- Không thể có chuyện Thánh vật người. Tôi đã làm nghề đào mộ 43 năm, khai quật 3 xác ướp và 800 ngôi mộ cổ mà không có vấn đề gì. Những người làm cùng tôi nhiều năm qua cũng khỏe cả. Nếu người bị Thánh vật thì tôi có thể phải chịu đầu tiên vì "động" tới các cụ.
Tôi biết GS Trần Quốc Vượng mất do bị ung thư. Những chuyện khác mà tôi đọc được như ông Phó chủ tịch thị trấn bị mất chức là việc hoàn toàn do con người gây ra. Họ tham ô, tham nhũng thì bị mất chức, vào tù là rõ ràng.

- Theo lời kể của ông Nguyễn Hùng Cường, có đến cả chục trường hợp là những người tham gia thi công ở sông Tô Lịch và người thân của họ bị ốm đau thậm chí thiệt mạng. Liệu có thể lý giải như thế nào về việc này thưa ông?

- Theo tôi, những người thợ thi công trên tuyến sông bị đau ốm có thể là do khí độc. Không loại trừ có ám khí tại khu vực này. Khi chúng tôi khảo cổ một hang ở Mai Châu, một người trong đoàn đã bị chết vì máu trắng. Nhiều người trong vùng đó cho biết, trẻ con sinh ra bị dị dạng. Sau đó, giới khoa học cho biết cái hang đó đó có bị nhiễm chất Uranium.
Chuyện tìm mộ thì có thể tin được vì mỗi người có trường sinh học khác nhau.

- Có thông tin khu vực này được người xưa trấn yểm, ông nghĩ sao?

- Tôi không tin có chuyện trấn yểm. Vì yểm để bảo vệ người chứ không thể làm chết người. Khúc sông Tô Lịch mà đội của ông Cường thi công là ngã ba sông nên nhiều hiện vật trôi về, người ta vin vào đó để nói về việc trấn yểm. Họ đưa ra vì mục đích gì thì tôi không biết.

- Vậy 8 bộ hài cốt ở dưới sông đóng đinh sẽ được giải thích thế nào, thưa giáo sư?

- Khảo cổ thấy xương người là chuyện bình thường. Chúng tôi nghiên cứu ở Hoàng Thành Thăng Long, đường Trần Phú, thậm chí Đàn Xã Tắc đều thấy hài cốt. Thông tin là chôn người để tế là không xác thực vì khi tế họ phải chôn theo những đồ chuyên dụng, còn những đồ cổ tìm thấy thì không phải đồ tế.

- Ngay từ năm 2001 đã có cuộc hội thảo về vấn đề liên quan đến sông Tô Lịch, tại sao thời điểm đó những nhà khoa học chuyên môn như ông không lên tiếng?

- Hồi đó tôi đi công tác nước ngoài, chỉ nghe anh em thuật lại. Tôi vẫn cho rằng, các vấn đề thi công là do địa chất khu vực đó yếu, còn số đồ cổ tìm thấy là do những nơi khác trôi về. Tôi khẳng định là không có chuyện Thánh vật. Tuy nhiên, tôi cho rằng, nên có một cuộc hội thảo để giới khoa học thảo luận về trường hợp này, giúp người dân hiểu rõ.





Ông Nguyễn Đức Hòa, Phó giám đốc Sở Văn hóa thông tin Hà Nội:
"Nếu Thánh vật thì kè sông Tô Lịch không thể xây được như hiện nay"


Khi đó, tất cả chuyên gia khảo cổ, sử học, văn hóa đã kết luận là không có trận đồ bát quái tại đây. Theo tôi, trận đồ phải xếp theo ngũ hành song các hiện tượng ở sông Tô Lịch thì không có. Ngoài ra, cũng không có hiện tượng của lễ hiến tế, chỉ thấy một ít xương động vật, đồ cổ.

Địa chất tại 200 mét sông Tô Lịch yếu, bất cứ kè vào đó đều bị lún nứt. Sau khi đơn vị thi công thay đổi phương án thi công thì lại thực hiện được. Nếu cho là Thánh vật thì ai làm cũng không được, không thể thành được tuyến đê hoàn chỉnh như hiện tại.

Tính nhân quả của những người mà tác giả đưa ra là do làm sai thì phải chịu, không thể áp đặt đổ cho chuyện tâm linh, huyền bí.





Không có chuyện cán bộ PJICO hầu tòa là do "Thánh vật"

Trong bài viết về “Thánh vật ở sông Tô Lịch”, ông Nguyễn Hùng Cường hai lần khẳng định em gái ông là Nguyễn Thị Bích Hợp, cán bộ Công ty Bảo hiểm PJICO, bị oan khuất do… gia đình gặp đại hạn từ chuyện "phạm phải trận đồ trấn yểm Đại La trên sông Tô Lịch".


Bị cáo Nguyễn Thị Bích Hợp và các bị cáo khác trong vụ PJICO.

Ông Nguyễn Hùng Cường, Đội trưởng Đội xây dựng số 12, người trực tiếp chỉ huy thi công đoạn sông qua phường Nghĩa Đô, Cầu Giấy (Hà Nội) trong một bài báo mới đây cho rằng có chuyện oan khuất trong vụ tham nhũng ở Công ty PJICO Vậy sự thật là thế nào?

Trước hết, chúng tôi thực sự chia sẻ những chuyện không may mắn xảy ra đối với ông Cường, những người thân trong gia đình ông Cường, cũng như đối với một số người khác có liên quan nêu trong bài báo.

Tuy nhiên, về những chi tiết được tác giả Nguyễn Hùng Cường liệt kê đối với bản thân, những người thân trong gia đình và một số trường hợp khác để cho rằng có sự oan khuất và gán việc liên quan đến Thánh vật phải được nhìn nhận thấu đáo.

Ông Nguyễn Hùng Cường là Đội trưởng Đội xây dựng số 12, trực tiếp chỉ huy thi công kè, sửa đoạn sông nói trên nên ông là người biết nhiều sự việc xảy ra.

Nhưng chúng tôi thấy rằng, với những chi tiết này, hoàn toàn không thể gán ghép với chuyện tâm linh ở sông Tô Lịch để huyền hoặc, cường điệu hóa với động cơ nào đó.

Trước hết, về cái gọi là oan khuất liên quan tới cô em gái của ông Cường là bà Nguyễn Thị Bích Hợp, tại kỳ 2, bài báo viết: "Ngay đến hôm nay, gia đình tôi vẫn còn phải chịu nhiều oan khuất. Em gái tôi là Nguyễn Thị Bích Hợp, bán bảo hiểm cho PJICO chỉ bán cho Công ty Việt Thái Phong, không tham ô, tham nhũng đồng nào. Chỉ vì các ông giám đốc, phó giám đốc tham ô tiền tỷ mà em gái tôi phải ra tòa".

Tiếp đó, trong kỳ 3 của bài báo, ông Cường tiếp tục viết: "Cô em gái tôi, Nguyễn Thị Bích Hợp, công tác tại Sài Gòn đang vướng phải oan khuất. Chỉ vì lòng tận tâm tận lực với Công ty PJICO, em tôi phải ra tòa. Cô em tôi đi xin lễ ở nhiều nơi, các thầy đều nói hạn của em tôi bắt đầu từ đại hạn của gia đình tôi từ năm Tân Tỵ 2001, năm tôi phạm phải trận đồ trấn yểm Đại La trên sông Tô Lịch"...

Việc hai lần nhấn mạnh chuyện oan khuất liên quan cô em gái vừa phải ra hầu tòa trong vụ PJICO và quy kết "đại hạn của em tôi bắt đầu từ đại hạn của gia đình tôi" hẳn tác giả có dụng ý. Vậy, có thực Nguyễn Thị Bích Hợp oan khuất trong vụ bảo hiểm PJICO không, có thực bà Hợp "không tham ô, tham nhũng đồng nào"?

Ngày 23/4, chúng tôi đã tìm hiểu vấn đề này tại Cục CSĐT tội phạm về TTQLKT và CV - cơ quan thụ lý vụ án tham nhũng ở PJICO. Đại tá Nguyễn Tiến Lực, Cục trưởng hiện đang công tác tại TP Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, khi chúng tôi đề cập vụ việc này, Đại tá nói ngay "Vụ này tôi giao đồng chí cấp phó chỉ đạo điều tra. Nhưng tôi khẳng định các kết luận đưa ra là đầy đủ căn cứ pháp lý, dựa trên các chứng cứ vững chắc".

Vụ án vừa được TAND TP Hà Nội đưa ra xét xử. Trong tổng số 3,8 tỷ đồng gian lận tại PJICO có liên quan việc nhận hối lộ của nguyên Tổng Giám đốc Trần Nghĩa Vinh cùng Phó Tổng Giám đốc Hồ Mạnh Quân.

Cùng hầu tòa còn có bị cáo Phan Hồng Thu, nguyên Giám đốc Công ty Việt Thái Phong và 3 cựu cán bộ của PJICO gồm: Nguyễn Thị Bích Hợp, nguyên cán bộ Phòng Bảo hiểm Hàng hải, chi nhánh TP Hồ Chí Minh; Vũ Dương Quý, nguyên Phó phòng Giám định, bồi thường; Ngô Hồng Khoa, nguyên Trưởng phòng Giám định, bồi thường.

Bà Nguyễn Thị Bích Hợp, em gái ông Cường, 38 tuổi, trú tại quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Ngày 12/9/2005, Cơ quan CSĐT Bộ Công an khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Bích Hợp về hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
Sau khi thu thập đầy đủ chứng lý, Cơ quan CSĐT Bộ Công an kết luận: bà Nguyễn Thị Bích Hợp đã lập chứng từ thu phí bảo hiểm của Công ty Việt Thái Phong sai quy định.

Trên thực tế, khi tàu chở tôm đông lạnh xuất khẩu bị cháy trên đường vận chuyển, Công ty Việt Thái Phong mới chạy để mua bảo hiểm của PJICO.

Biết rõ lập chứng từ trong trường hợp này là sai hoàn toàn nhưng bà Hợp vẫn cố ý thực hiện cho Công ty Việt Thái Phong, giúp công ty này có bộ hồ sơ "đẹp mắt".

Với sự giúp đỡ này của bà Hợp nên Giám đốc Phạm Hồng Thu có cơ sở để làm việc với ông Trần Nghĩa Vinh và Hồ Mạnh Quân, đưa hối lộ 1,9 tỷ đồng để vụ gian lận bảo hiểm được thực hiện suôn sẻ.

Cơ quan CSĐT khẳng định, với hành vi cố ý làm trái nói trên, Nguyễn Thị Bích Hợp đã giúp sức, tạo điều kiện cho Công ty Việt Thái Phong thực hiện trót lọt hành vi phạm tội.

Kết luận này được Viện KSND tối cao thống nhất và truy tố bị cáo Hợp ra trước tòa. Bị cáo Hợp cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Như vậy, không có căn cứ nào để nói rằng bà Nguyễn Thị Bích Hợp bị oan khuất. Hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng và đã phạm tội nào thì phải bị xử lý theo pháp luật về tội đó.

Cũng như bất kỳ cá nhân nào, việc xử lý là căn cứ vào chứng cứ, theo đúng quy định pháp luật. Hoàn toàn không thể biện minh một hành vi phạm tội đã được kết luận để gán cho câu chuyện xảy ra ở sông Tô Lịch, cho rằng việc đó cũng bị Thánh ám.
Nói kiểu như vậy thì thử hỏi, những bị cáo khác trong vụ PJICO bị cái gì ám khi họ cũng phải đứng trước vành móng ngựa chịu sự trừng phạt của luật pháp?

Việc nhắc nhiều lần về cô em gái của mình vừa phải ra tòa và liên tục nhấn mạnh "đang vướng phải oan khuất" hẳn không phải điều ông Cường nêu ra một cách bình thường. Có động cơ gì ông muốn nhân chuyện "Thánh vật ở sông Tô Lịch" để tạo một áp lực thiếu khách quan trong vụ việc này?

Một số trường hợp khác theo ông Nguyễn Hùng Cường cũng có nguyên do từ "Thánh vật ở sông Tô Lịch". Đáng chú ý, vụ việc liên quan đến 3 người: bà Nguyễn Thị Sang, nguyên Chủ tịch UBND Nghĩa Đô, ông N.L., nguyên Phó Chủ tịch và ông M.G., nguyên Bí thư Đảng ủy.
Ông Cường nhắc lại chuyện xảy ra năm 1986, khi Đảng ủy, chính quyền, Công an thị trấn Nghĩa Đô bắt một vụ mê tín dị đoan tại miếu Đôi Cô, thu một số đồ vật liên quan trong miếu.

Hậu quả vụ việc là: ông N.L. sau đó không trúng cử và mất chức Chủ tịch UBND thị trấn; ông M.G. bị bệnh về mắt và con trai ông tham gia vụ dùng súng cướp tài sản công dân; bà Nguyễn Thị Sang bị phạt 2 năm tù.

Chúng tôi cũng đã liên hệ để tìm hiểu sự thật vụ việc này. Theo như tác giả bài báo thì các ông, bà nói trên mất chức hay phải ngồi tù là có nguyên do sâu xa từ vụ chỉ huy lực lượng bắt vụ mê tín dị đoan ở miếu Đôi Cô nói trên.

Nhưng thực tế, tại Nghĩa Đô, hiện người dân đều biết rất rõ các vụ việc đó. Họ cũng nhớ rành rành vụ bắt hoạt động mê tín dị đoan trong miếu, việc các ông, bà sai phạm và bị xử lý.

Vụ bắt mê tín dị đoan xảy ra năm 1986, trong khi các ông, bà nói trên bị xử lý cách đó nhiều năm. Họ bị xử lý vì vi phạm pháp luật.

Cụ thể, bà Nguyễn Thị Sang đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, có những sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai tại địa bàn nên bị xử phạt 2 năm tù.

Việc con trai ông M.G. sử dụng súng gây ra vụ cướp tài sản công dân xuất phát từ việc quản lý, sử dụng súng trái quy định của ông và đương nhiên, con ông phạm tội thì phải bị xử lý theo pháp luật, không có oan khuất gì ở đây.

Đối với ông N.L., nguyên Chủ tịch UBND thị trấn, do trong quá trình công tác, ông có những biểu hiện khuất tất, không được tín nhiệm nên tại kỳ bầu cử HĐND thị trấn, ông đã không đủ số phiếu quy định...

Như vậy, việc mất chức hay bị phạt tù của những ông, bà nói trên là do vi phạm pháp luật, do không được tín nhiệm. Tất cả đều xuất phát từ hành vi của chính họ và bị xử lý theo pháp luật.

Một cán bộ ở quận Cầu Giấy biết rõ việc này cho rằng, cách đặt vấn đề như ông Cường rõ ràng là suy diễn, ngụy biện. Không có bất kỳ căn cứ nào để nói rằng vì "Thánh vật" nên họ chịu đen như trên...

Thế giới tâm linh trong chừng mực nào đó vẫn là bộ phận không thể thiếu của đời sống văn hóa tinh thần. Có những điều khoa học cũng chưa giải thích được và cần có thêm thời gian. Thế giới tâm linh cũng cần được đặt vào hoàn cảnh, cần hiểu đúng và vận ứng vào điều kiện cụ thể.
Nhưng nếu coi tâm linh để gán ghép vào những chuyện không may mắn của từng cá nhân lại là chuyện khác. Chưa nói, có những việc rõ ràng không có liên quan gì nhưng do sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó, rơi vào đúng thời gian diễn ra sự việc hoặc sau khi xảy ra sự việc nên dễ có sự liên tưởng tới tâm linh.

Về điều này, Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải, Viện Công nghệ môi trường phản đối việc tác giả bài báo "Thánh vật ở sông Tô Lịch" liên tưởng một số người bị mất là do cầm đồ vật ở sông Tô Lịch. "Có biết bao người đã động vào những thứ đồ cổ đó nhưng có phải ai cũng xui, ai cũng chết" - ông nói.

Riêng về những người vi phạm pháp luật, phạm tội, bị cơ quan bảo vệ pháp luật điều tra, kết luận và xử lý theo quy định mà tác giả bài báo lại đánh lạc hướng sang "Thánh vật" để cho rằng oan khuất, bị ám chỉ, rõ ràng cần xem xét động cơ.

Không thể mượn chuyện tâm linh để cố tình lạc đề với dụng ý cá nhân vào việc khác rõ ràng thiếu khách quan.





Chuyện "Thánh vật ở sông Tô Lịch": "Tất cả chỉ là sự tự quy kết"

Là người tổ chức cuộc tọa đàm cuối năm 2002 xung quanh những vấn đề từ việc thi công nạo vét và kè đá sông Tô Lịch đoạn Nghĩa Đô-Cầu Giấy (Hà Nội), nhà sử học Dương Trung Quốc tỏ ra phẫn nộ khi câu chuyện trên lại được (bị) đưa lên mặt báo.


Nhà sử học Dương Trung Quốc

Ông Dương Trung Quốc nói:
Tôi vừa phát biểu với Hội Nhà báo Việt Nam là chúng ta không phản ứng kịp, để kéo dài quá, thành hiệu ứng xã hội rồi. Tôi nói với tư cách cá nhân, không phải đại diện cho Hội Lịch sử Việt Nam.
Thời điểm đó, họ mời tôi - người của Hội Lịch sử Việt Nam để tập hợp anh em tổ chức một cuộc tọa đàm. Tại tọa đàm mới nảy ra điều này: tất cả đều là sự liên tưởng hết chứ không trên cơ sở một hiện thực nào.
Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng nói về các tập tục xưa, GS Đỗ Văn Ninh nói về cấu trúc thành xưa. Thế rồi, các hiện tượng được người ta quy thành một giả thiết.

Và không có kết luận nào?

Điều rõ nhất và chắc chắn nhất là những hiện tượng trên không có một cơ sở khoa học nào. Địa điểm thi công, theo một số ý kiến chuyên môn, nằm trên điểm hợp lưu của những con sông cổ dẫn đến hai hệ quả: Kết cấu không bền vững, phức tạp, phải chăng nó tạo ra nhiều khó khăn trong việc thi công?
Yếu tố thứ hai, vì là hợp lưu của nhiều con sông cổ nên tạo ra yếu tố đặc thù về tâm linh, phong thủy, cũng là điểm tập trung của nhiều cổ vật trôi về đấy. Người ta lại kết hợp với ngôi đền cổ gần đó để liên tưởng.
Nói thật, lòng con sông cổ trong một đô thị ngàn năm bới đâu chả ra cổ vật. Cái quan trọng nhất của khảo
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 179
Join date: 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Thánh vật ở sông Tô Lịch - Part 4   Wed Mar 07, 2012 10:38 am

NCD tuy là người miền Nam, nhưng cũng xin góp tiếng với tác giả bài viết về việc sông Tô Lịch, với tính cách một người thích tìm tòi về Phong Thuỷ, và vì sự phồn vinh chung của đất nước như tấm lòng của tác giả và hàng triệu con tim người Việt khác.
Qua các sự việc mà tác giả bài viết đưa ra, NCD nhận thấy khả năng là do Cao Biền trấn yểm là cao hơn cả. Trong các tài liệu cổ lưu lại thì: Cao Biền được vua Đường Trung Tông phong làm An Nam Tiết Độ Sứ, sang đô hộ nước ta. Cao Biền là một nhân vật rất giỏi về khoa địa lý, nên trước khi đi sang nước ta nhậm chức, vua Đường Trung Tông đòi vào triều ủy thác sứ mệnh cho Cao Biền phải tìm các nơi thủy tú sơn kỳ trên đất nước ta, nơi nào có Long Mạch lớn, có huyệt kết tốt thì phải yểm phá, và lập bản tấu thư về cho vua Đường Trung Tông biết. Sau khi sang nước ta, Cao Biền vận dụng hết khả năng và thời gian đi khắp các nơi để Tầm Long Điểm Huyệt. Chính Cao Biền cũng không ngờ trên một đất nước nhỏ bé như nước ta lại có nhiều Long Mạch lưu tụ và khí thế sông núi ưu tú đến như vậy. Nên Cao Biền không viết tấu thư mà viết hẳn một cuốn sách tựa đề là "Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự" gởi về tấu trình. Mặt khác Cao Biền lại tìm cách trấn yểm và phá hủy những Long Mạch lớn, phát vương tướng. Xin trích một số đoạn trong sách này cho các quý vị tham khảo:
" Giao Châu Đô hộ Sứ, thần Cao Biền cẩn tấu vi bản châu địa mạch thế hình thế sự, thần hạnh phát dư sinh thao tỵ hà những, thượng tự thâm sơn, hạ hạ chi đại hải, ngưỡng quan phủ sát, phát tận chân cơ, ký tự thiên hữu, cảm bất khánh kiệt sở kiến văn, thượng tự tự đế vương, vương công, công hầu, vương phi, thứ thần đồng, tú tài, vị chi thị phủ, phục khất phủ lãm giảo quan chi khí, kiến văn cụ lục.
HÀ ĐÔNG
THANH OAI:

_ Đệ nhất: THANH OAI phong
Ấp trung Thanh Uy, hình thế tối kỳ
Thủy lưu tứ vượng, án khởi tam qui
Mạch tòng hữu kết, khí định tả y
Thần đồng tiền lập, quỷ xứ hậu tỳ
Khôi khoa tảo chiếm, phúc lộc vĩnh tuy
Tu phong mạch tận, thừa tự vô nhi.

_ Đệ nhị: CAO XÁ phong
Thanh Oai Cao Xá, chân vi quý long
Thủy khuê tùy mạch, bình dương lai tung
Hoa khai hữu hổ, tinh hiện tả long
Sơn thủy trù mật, khí thế sung giong
Hà tu hợp hải, ngưu giác loan cung
Chủ khách hoàn mỹ, tả hữu vô tòng
Hoa tâm khả hạ, thế xuất anh hùng
Văn khôi hoa giáp, võ tổng binh nhung
Phú quý thọ khảo, kiêm hữu kỳ công.
........"
=>
Giao Châu Đô hộ Sứ, thần Cao Biền kính cẩn tâu: Bản châu địa thế như vầy, thần nguyện đem hết kiếp sống thừa, từ tận núi cao ra đến biển cả khảo nghiệm để biết các cuộc đất phát lớn từ vương tôn công hầu, đến thần đồng, tú tài, khoa đệ, giàu sang phú quý mọi thứ... làm bản tấu ca dâng lên tường tận
HÀ ĐÔNG
THANH OAI:

1/. Cuộc đất Thanh Oai:
Trong ấp Thanh Oai, hình thế rất lạ
Thủy vượng bốn phương, án phát tam qui
Mạch kết bên hữu, khí dựng phía tả
Thần đồng đứng trước, quý sứ nối sau
Bảng vàng sớm chiếm, phúc lộc dồi dào
Nên phòng mạch tận, không con nối dòng.

2/. Cuộc đất Cao Xá:
Thanh Oai Cao Xá, thật có quý địa
Nước khe theo mạch, về nơi đất bằng
Hoa nở bên Bạch Hổ, sao hiện bên Thanh Long
Sơn thủy dồi dào, khí thế sung mãn
Cần gì hợp biểu, ngưu giác loan cung
Chủ khách đều tốt, tả hữu một lòng
Lòng hoa rộng mở, thế phát anh hùng
Văn chiếm đầu bảng, võ chiếm nguyên nhung
Sống lâu phú quý, lập nhiều kỳ công.
....."
Theo quyển "Tấu thư địa lý kiểu tự" Cao Biền ghi tất cả là 632 huyệt chính, và 1517 huyệt bàng trên khắp các tỉnh như :
_ Hà Đông: 81 chính- 246 bàng
_ Sơn Tây: 36 chính- 85 bàng
_ Vĩnh yên
Phú Yên 65 155
Phú Thọ

_ Hải Dương
Hưng Yên 183 483
Kiến An

_ Gia Lâm 134 223
Bắc Ninh
Đáp Cầu
Bắc Giang
Lạng Sơn

_ Hà Nam
Nam Định 133 325
thái Bình
Ninh Bình

Theo thống kê trên, cũng đủ thấy công phu Tầm Long Điểm Huyệt và trấn yểm của Cao Biền đến bực nào rồi. Các truyền thuyết về Cao Biền còn lưu lại rất nhiều trong dân gian Việt Nam ta. Như ở Phú Yên, tương truyền có mả Cao Biền ở đó, đấy là một độn cát nơi chân núi dưới biển. Độn cát không lớn lắm, nhưng không bao giờ san bằng được vì bốn mùa gió cát vun lên. Dân trong vùng có câu phong dao:
Ngó lên hòn núi cả thấy mả Cao Biền
Thấy đôi chim nhạn đang chuyền nhành mai.
Theo truyền thuyết thì từ thuở xa xưa, Cao Biền đã vun biểu tượng mả để trấn yểm dân Việt Nam. Vì thuật địa lý giỏi nên ông ta đã tìm một nơi bốn mùa cát vun để ngôi mả đó không bị mất đi.
Trong quyển "Địa dư bình Định" của ông Bùi Văn Lăng viết từ năm 1930 cũng có đề cập đến di tích Cao Biền như sau: "Dọc theo đường QL số 1 chạy ra đến Phù Cát có đá Cao Biền. Đó là một cái thẻ thời xưa Cao Biền trấn yểm. Thẻ ấy bằng đá và chôn rất sâu. Thuở xưa dân làng đã có nhiều lần thuê voi về nhổ, nhưng nhổ không lên".
Ở Phù Mỹ, đường đi Đề Gi có một cụm núi nhỏ, cách đó không xa, lại có một hòn đá lớn nổi lên rất ngộ nghĩnh. Theo truyền thuyết thì đó là nơi Cao Biền đã dùng phép trấn yểm thuở xưa.
Phải dẫn giải dài dòng như thế là vì NCD tôi muốn mạo muội đưa ra một ý hơi khác với tác giả bài viết về vụ sông Tô Lịch. Theo thiển ý của NCD, việc trấn yểm nơi sông Tô Lịch thì sác xuất là do Cao Biền làm là cao hơn cả (tức là không phải không có khả năng khác đâu), nhưng chưa hẳn là ông ta tính toán sai lầm. Bởi chúng ta không phải là người sống thực thời đó, trong tài liệu cổ cũng không lưu lại gì nhiều về giai đoạn đó của Cao Biền, chỉ là những truyền thuyết trong dân gian. Nhưng tất cả những truyền thuyết ấy đều nói lên một điều: Bản thân Cao Biền là một nhà địa lý giỏi, nhưng không thể mang danh Phong Thủy Đại Sư! Vì sao? Vì một người Tầm Long Điểm Huyệt, cái quý là trân trọng, giữ gìn những kho tàng quý giá mà thiên nhiên đã tạo ra ấy. Long Mạch chính là cái Tinh Hoa của Đại Địa hun đúc nên, có khi nó chỉ là ở một dãy núi kết thành, có khi lại xuất phát từ Tổ sơn ở tít xa, khí thế liên miên bất tận, trùng trùng điệp điệp kéo dài cả mấy chuc, thậm chí vài trăm cây số mới kết nên một Đại Long Mạch. Một bậc Đại Sư Phong Thuỷ cho dù với lý do gì thì cũng không nỡ nào phá hũy nó. Chúng ta thôi không bàn đến tư cách đạo đức của Cao Biền, chỉ nói cái tài, thì ông ta quả thật có tài. Qua bản tấu thư của ông ta cũng thấy ông ta nghiên cứu rất tường tận về địa hình địa lý nước ta. Một người đã bỏ công soạn thảo chi ly từng huyệt mạch như ông ta thì không thể có việc tính toán sai lầm như vậy được.
NCD rất đồng ý với tác giả về việc lý giải các Huyệt, Mạch trong Phong Thuỷ qua hình tượng đơn giản cho dễ hiểu là kinh mạch trên cơ thể người. Nhưng NCD chỉ xin bổ sung một ý nhỏ, đó là việc trấn yểm trong Phong Thuỷ không hẳn là chận, ngăn dòng khí mà có thể sử dụng nó để làm tiết khí Long Mạch. Khi một Long Mạch bị thoát khí thì kể như đó là vùng đất chết vậy. Muốn hóa giải, người thầy địa lý phải thật giỏi, nghiên cứu kỹ hình thể địa lý nơi đó mà cải tạo lại. Bởi Phong Thuỷ không thể thay đổi hình cục của thiên nhiên được (nếu được thì ngày xưa giờ có lẽ không có chuyện thay triều hoán vị rồi). Người thầy Phong Thuỷ phải dựa vào bố cục có sẵn của thiên nhiên, cải tạo làm sao cho không mất đi cái gốc ban đầu, mà chỉ sửa sang nó, bổ sung nó (như làm dòng nước chảy êm ái hơn mà không phải đào xẻ rộng lòng sông).
Trở lại với vấn đề sông Tô Lịch, NCD nghĩ, có lẽ tác giả bài viết có sự nhầm lẫn về độ số cung Đoài chăng? Bởi số 9 Dương Kim như lời tác giả nói thì ôi thôi, đi lệch với định hướng trong Phong Thuỷ... hơi bị xa rồi. NCD sẽ trở lại trong lần tiếp về các số sinh, số thành, tức là các số 1, 2, 3, 4, 5 là số sinh; 6, 7, 8, 9, 10 là số thành. NCD thiết nghĩ cỏ lẽ tác giả dựa theo đặc trưng của Hà Đồ:
Số 1 & số 6 ở phương Bắc hành Thủy
Số 2 & 7 Nam Hỏa
Số 3 & 8 Đông Mộc
Số 4 & 9 Tây Kim
Số 5 & 10 ở trung ương thuộc hành Thổ.
Đây là dựa theo các chấm trên lưng con Long Mã trên sông Hoàng Hà. Các chấm trắng tượng trưng cho số Trời, là số Dương: 1, 3, 5, 7, 9. Các chấm đen tượng trưng cho Đất, là số Âm: 2, 4, 6, 8, 10.
Vì vậy Kinh Dịch nói: Thiên 1, Địa 2, Thiên 3, Địa 4........ Địa 10, Thiên số 5, Địa cũng số 5. Cái mà Hà Đồ phản ánh chẳng qua là kết cấu không gian của vũ trụ, lấy quả đất làm trung tâm.
Theo Lạc Thư, thì số 1 Thủy ở phương Bắc, số 2 Thổ ở phương Tây Nam, số 3 Mộc ở phương Đông.... cho đến số 9 Hỏa ở phương Nam. Và các nhà Dịch học đã vẽ ra ô vuông Lạc Thư. Đem ô vuông Lạc Thư ra đối chiếu, ta thấy nó rất hợp với phương hướng trên trái đất, như hướng Bắc bên dưới, theo chiều kim đồng hồ chuyển đi, ta thấy kế đó là hướng Đông Bắc, rồi đến Đông, rồi Đông Nam.... cho giáp vòng đến Tây Bắc. Đây cũng chính là trùng hợp với Hậu Thiên Bát Quái_ tương truyền của vua Văn Vương nghĩ ra_ đem hai đồ hình lồng vào nhau, ta có: 1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 5 ở trung tâm, 6 Càn, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly.
Thực ra theo Hà Đồ, ta có:
Thiên 1 hợp Địa 5 sinh thành 6, nên nói 1 & 6 ở phía Bắc
Thiên 3 hợp Địa 5 sinh thành 8, nên nói 3 & 8 ở phía Đông
Địa 2 hợp Thiên 5 thành 7, nên nói 2 & 7 ở phía Nam
Địa 4 hợp Thiên 5 thành 9, nên nói 4 & 9 ở phía Tây
Hai số Trời là số sinh, nên lấy nó để định hướng.
1 ở chính Bắc thì 9 ở chính Nam, hai số hợp nhau thành 10.
3 ở chính Đông thì 7 ở chính Tây, hai số hơp nhau thành 10.
(Sở dĩ chọn số 5 làm số để cộng vì theo quan niệm xưa, số 5 là con số chủ, tượng trưng cho vạn vật trong trời đất. Như người thì có Ngũ quan- Ngũ tạng- Ngũ hình tướng..; vũ trụ thì có 5 loại hình vật chất là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ....vv....nên số 5 thay cho vũ trụ Thiên Địa làm con số cộng thêm vào vậy)
Như đã biết 1, 3, 7, 9 là số Dương, là số Trời.
2, 4, 6, 8 là số Âm, là số Đất.
Sự vận hành của Thiên Địa theo phương hướng ngược lại với nhau, Thiên quay sang trái, Địa quay sang phải. Số liên tiếp của Thiên là quay sang trái, do đó số liên tiếp của Địa phải quay sang phải.Tức là :
6 ở bên phải của chính Bắc, 4 ở bên phải của chính Nam, hai số hợp lại bằng 10
8 ở bên phải của Đông, 2 ở bên phải của Tây, hai số hợp lại thành 10
Như vậy phương vị của 8 số đã hoàn toàn được xác định, hoàn toàn ăn khớp với ô vuông Lạc Thư. Tác giả bải viết đó nói Dương Kim là 9, Âm Kim là 4 thực sai lầm lắm vậy! Bởi trong các thư tịch cổ chữ Hán về Phong Thuỷ, cũng chưa có tài liệu nào luận phương hướng kiểu lạ lùng như thế. Trong lĩnh vực Ngũ Hành, Âm dương (mà Phong Thuỷ không thể thoát ra ngoài thuyết này được) thì:
Càn, Đoài thuộc KIM
Càn, Khảm, Cấn, Chấn là các cung Dương
Tốn, Ly, Khôn, Đoài là các cung Âm.
Do vậy, Càn là Dương Kim, và Đoài là Âm Kim, còn độ số của nó như đã nói ở trên vậy. Đây là điều đầu tiên mà NCD tôi muốn nói đến về sự sai lầm trong nhận định độ số của hướng Tây ở bài viết trên. Tây Đoài là Âm Kim, ứng với thiếu nữ, thuộc số 7.

Luận về hình thế của Phong Thuỷ, Đại Sư Phong Thuỷ đời Tống là LAI BỐ Y đã viết: Phàm xây dựng thôn trấn, trước hết phải tôn trọng Khí Cục, có Khí có Cục mới thượng thừa. Có Khí mà không có Cục , hoặc có Cục mà vô Khí thì đều không phải là đất phúc lộc lâu dài..... Luận về LONG, ông bảo: Khi đã có Chân Long Huyệt còn phân ra nhiều loại như: Thiên Long, Chi Long, Hư Long, Thực Long, Phù Long, Khinh Long, Kiên Long, Chiên Long, Địa Long, Thủy Long, Sơn Long, Kim Long, Mộc Long, Hỏa Long. Có tất cả 14 Đại Long. Phàm tất cả các Long Huyệt như Hợp Cán Long, Thực Long, Kiên Long, Thiên Long, Địa Long trong Long Huyệt Ngũ Hành mới đáng gọi là Thực Long. Trăm huyệt không sai một, do kiên cố và đầy đủ Long Khí nên có thể kéo dài miên trường, ngàn năm không suy vong. Còn những Long Huyệt còn lại đều là Phù Long, tuy Long Khí thấy rất thịnh nhưng nền tảng không vững chắc, chẳng qua như hoa đốm trên không chớp chớp rồi tắt ngay, phù nổi mà không có gốc, rỗng mà không chắc.... Long Mạch là Linh Khí của Đại Địa kết tụ, tập trung tinh hoa của vũ trụ, đó là cái rún ở giửa thắt lưng của Chân Long, lực của nó chí cường....."
Đấy chưa phải là đủ, chúng ta còn phải xét đến Long Mạch đó là ở vùng núi non hay ở đồng bằng nữa. Bởi NCD tuy từng đặt chân ra phía Bắc, nhưng do bận công việc suốt thời gian ở đó, chưa có dịp thấy thực địa vùng nào ngoài Tả Thanh Oai, nên không thể đoán định gì, vì Phong Thuỷ không thể nói suông, nên NCD tôi chỉ góp thêm chút ý kiến về Long Mạch và đưa ra vài ý kiến dựa trên bài viết của tác giả ấy mà thôi. Ở vùng sơn cước thì gọi là mạch Âm, vì mạch luôn chìm xuống (vì thế ta mới gọi là Âm Sơn, đừng lầm tưởng núi cao lên là Dương rồi cho là Dương Mạch hay Dương Sơn là sai lầm lớn), còn ở dưới đồng bằng thì mạch nổi lên cao. Long Mạch không chỉ chạy trên đất liền sơn cước hay đồng bằng mà có thể qua ao, qua hồ, thậm chí qua cả sông, lặn sâu xuống dưới bãi, dưới đầm lầy một quãng cách thật xa, rồi lại tiếp tục nổi lên đi nữa. Trạng thái này trong Phong Thuỷ học gọi là trạng thái "Khởi phục"
của Long Mạch. Với loại mạch này, các nhà địa lý thiếu kinh nghiệm thường lầm lẫn, cứ tưởng nơi đó đã đến chỗ Long đình Khí chỉ, vội tìm Huyệt kết là sai lầm to. Thực ra, một kiểu đất kết phải hội đủ các điều kiện:
_ Tiền án: là một mô đất cao nổi lên trước mặt Huyệt, như một cái bàn trước mặt người ngồi vậy.
_ Hậu trẫm: là một mảnh đất đằng sau Huyệt, như một cái gối để người ta tựa đầu vậy.
_ Tả Long: là thớ đất ở bên trái Huyệt mọc ra ôm chầu vào Huyệt
_ Hữu Hổ: ......................phải.............................................
_ Minh đường: là nơi nước tụ trước Huyệt để nuôi dưỡng khí mạch của Huyệt kết.
Nơi bình dương, đồng bằng, xem xét một Huyệt kết rất khó (khi ra Hà Nội, NCD cũng may mắn có dịp ghé thăm đất kết của cụ tổ của Nguyễn Trãi, cũng là một Huyệt kết ở vùng xung quanh là ruộng). Tuy vậy, Mạch ở đồng bằng ôn hòa hơn, phát chậm mà bền lâu, ít bị hung sát; còn Mạch ở vùng núi non thì khí thế hùng vỹ bày ra rất dễ trông thấy, vì vậy, vùng núi non Mạch thường phát tướng võ, ít có phú quý giàu sang (vì hiếm có Minh Đường Thủy Tụ). Mạch ở vùng núi khí thế càng hùng vỹ thì hung sát càng dữ. Người nào được mạch ở vùng núi, nếu thành công thì đa sát, nếu thất bại thì gia tộc tử vong. Muốn không gặp Hung Sát thì đó phải là Chân Long đích thực, lại được một thầy Phong Thuỷ cực giỏi xác định chính xác Tâm Huyệt mới được. Các nhà địa lý thường tìm mạch ở vùng núi hơn là mạch ở đồng bằng (Có phải vì nó dễ xác định hơn chăng?! )
Trở lại với vùng đất mà tác giả đề cập, suy đoán, đặt giả thuyết. NCD thấy có vài ý sau:
1/.Tác giả lập luận rằng theo truyền thuyết, khi xưa Cao Biền xây thành Đại La bị sạt lỡ hoài nên trấn yểm. Trong Phong Thuỷ, nếu là Âm phần, thì xương cốt người mất táng vào đó sẽ hấp thu Linh Khí của Long Mạch, rồi sau đó phần Linh Khí của vùng đất và của người mất đó hòa vào nhau. Luồng Khí này sẽ theo không khí mà đi tìm Khí của những người cùng huyết mạch với mình mà hòa quyện vào đó, sinh ra những con cháu thừa hưởng Long Khí của huyệt mạch đó. Tình trạng này người xưa gọi là "Đồng Khí tương cầu", còn theo Khoa học ngày nay thì như tác giả nói là lực cộng hưởng không sai.
Với ngôi Dương Cơ, Long Khí tác động trực tiếp lên người sinh sống ở đó, mà qua sự tiến bộ của Khoa học kỹ thuật ngày nay, người ta chứng minh đó là do từ trường nơi vùng đất đó tác động đến từ trường của người sống ở đó, nếu nó thích hợp tần số từ trường người đó thì đem lại kết quả tốt. Chính vì vậy, trong khoa Phong Thuỷ mới nhận định "nhất Dương thắng thập Âm". Một huyệt Dương sẽ phát thật nhanh, nếu hình thể hợp cách có thể phát vượng cả ngàn năm không suy suyễn, đó thường là cách cục của các Kinh Thành lớn. Còn Âm phần có tính cách Tiềm Di Mặc Hóa, có khi đến đời con hoặc đời cháu mới hưng phát. Nhưng nghịch lý thay, trong dân gian lại chú trọng Mạch Âm hơn!
Nếu nói Cao Biền cho trấn yểm nơi đó để xây thành Đại La, và để phá hoại Long Mạch thì có hơi khiên cưỡng. Bởi lúc ấy, Đường Trung Tông đã phong cho Cao Biền làm Đô Hộ Sứ An Nam. Thành Đại La gần như là Kinh Đô thời ấy, khí vận của nó ảnh hưởng với người cai trị, nếu Cao Biền trấn yểm để xây thành với mục đích xấu chẳng lẽ ông ta tự đào hố chôn mình sao? Là một bậc thầy tầm cỡ về Phong Thuỷ, thiết nghĩ Cao Biền không thể làm việc tự di hại cho bản thân đến vậy.
Nếu nói như nhà sử học Dương Trung Quốc nghe có vẻ hợp lý hơn. Chúng ta chỉ có thể suy đoán mục đích của kẻ trấn yểm qua tình hình, bối cảnh lịch sử thời ấy, không thế áp đặt cho nó cái tư tưởng suy nghĩ như chúng ta ngày nay. Vậy thì ở đây có hai giả thuyết:
_ một là, Cao Biền trấn yểm là để xây thành được, và việc xây thành này là để trấn áp Long Mạch đế vương ở An Nam chúng ta_ như nhà sử học Dương Trung Quốc đưa ra luận cứ trích ở đâu đó
_ hai là, việc trấn yểm này không liên quan gì tới việc xây thành, nó chỉ thuần túy là trấn yểm nhánh Thanh Long, như tác giả bài viết lập luận.
Trước tiên NCd xin lạm bàn một tý về giả thuyết của tác giả bài viết đó trước, sau sẽ nói đến trường hợp của nhà sử học Dương Trung Quốc đưa ra.
Theo tác giả bài viết ấy thì Cao Biền đã dùng biện pháp trấn yểm kia để chận đứng đường đi của Long mạch. Thực tế, trong khoa Phong Thuỷ, chỉ cần đào xẻ phạm vào Long Mạch là cũng đủ rồi, nếu không muốn cho người khác biết thì dùng cách trấn yểm ngầm như thế này. Nhưng hoàn toàn không thể vì chận đường Long Khí mà làm cả nhánh sông khô kiệt được. Xin đừng đem mọi việc gán ghép một cách thiếu căn cứ, trên lĩnh vực khoa học lẫn trên lĩnh vực Phong Thuỷ như thế. Khi Long Mạch bị đứt đoạn , thì nguồn Long Khí di chuyển từ Tổ Sơn không thể đến nơi Kết Huyệt theo đường đó nữa. Cho dù các thầy địa lý có tìm đến nơi kết huyệt, thiếu mất nhánh Thanh Long thì Huyệt khó kết được. Khi tác giả so sánh các đường di chuyển của Khí, của Long trong lòng đất với sự dịch chuyển của kinh mạch trong cơ thể con người, thì đó là sự so sánh tương tự thôi. Khi ta chận một đoạn trên tay Long hoặc tay Hổ, thì chỉ đoạn sau của nó mất tác dụng, tạo thế mất cân bằng, khuyết Thanh Long hoặc khuyết Bạch Hổ để vùng đất đó khó Kết Huyệt TRỌN VẸN, nhưng vùng đất đó vẫn có thể canh tác như ta thấy thực tế ở vùng đó bao lâu nay. Nhưng nếu là con người, MỘT khi cánh tay bị phế do bị phong bế huyệt, thì nó chỉ là một phế vật, chỉ chờ bỏ đi thôi, bởi máu huyết không theo đường Kinh lạc nuôi sống gân cốt nơi đó được nữa. Trở lại với Long Mạch, khi Huyệt khó kết trọn vẹn, thì nhánh Bạch Hổ khi ấy có chăng nữa, phỏng có ích gì? Việc có một số danh nhân, võ tướng gì gì, mà tác giả đề cập xuất thân từ nhánh Bạch Hổ, khiến NCD nghĩ đến hai trường hợp sau:
_ Một là, nơi bị trấn yểm không phải là Thanh Long của Huyệt trường mà chỉ là một Chi Long trên 1 Đại Long.
_ Hai là, nơi bị trấn yểm là Huyệt bàng nằm trên tay Long (tức trên Thanh Long của huyệt). Nếu nơi này nằm trên tay Long, tức Thanh Long bị vô hiệu hóa, khi ấy Huyệt có kết được cũng là khuyết một bên. Trong trước tác "Địa đạo diễn ca" của cụ TẢ AO có nói thế này:
Long Hổ bằng sự chân tay
Chẳng có tả hữu bằng ngay chẳng lành
......Vô Long như người mất chân
Vô Hổ như đứa ở trần không tay.
Như vậy đủ thấy tầm quan trọng của tay Long, tay Hổ trong một cuộc đất kết Huyệt là thế nào rồi. Thiếu một cái nào cũng lệch lạc, như một kẻ tàn tật vậy. Nhưng không phải là như vậy rồi không có Huyệt kết, bởi thế ở trên NCD luôn nói KHÓ kết Huyệt thôi. Nhưng theo NCD nghĩ, trường hợp này có thể là không kết huyệt. Vì sao lại nói vậy? Muốn hiểu vì sao, ta hãy cùng tìm hiểu xem nếu kết Huyệt thì huyệt đó thế nào. Trong tự nhiên thiên hình vạn trạng, cũng có khi Huyệt kết mà khuyết một tay Long, hoặc khuyết một tay Hổ vậy. Khi đó, cuộc đất này có sinh ra người tài nhưng tàn tật! Vả lại, như cụ TẢ AO có ghi trong Địa đạo diễn ca:
Thanh Long liên châu cao phong
Kim tinh, thổ phụ phát giòng trưởng nam
Con gái về bên Hổ sơn
Hổ cao thì phát, sơn bàn cho thông.
Chứng tỏ nhánh Bạch Hổ phát về nữ & các con trai thứ. Đấy là điều mà NCD không nghe tác giả bài viết đó nhận xét về những người thành danh trên nhánh Bạch Hổ, nên NCD mới loại khả năng kết Huyệt thiếu tay Long là vì thế. Trở lại luận cứ trên, nếu đây là nơi Huyệt bàng trên nhánh Thanh Long, ta trộm nghĩ xem tại sao trước đây kẻ trấn yểm lại bỏ qua cho Huyệt bàng trên nhánh Bạch Hổ? (vì theo như tác giả thì trên đất Bạch Hổ vẫn có người tài, vẫn có hưng vượng). Đặt mình vào thời điểm đó, ta thấy rõ quan niệm xưa trọng nam khinh nữ rất rõ. Mà theo Phong Thuỷ, "tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ", "nam tả, nữ hữu". Có lẽ vì vậy mà kẻ trấn yểm đó bỏ qua cho Huyệt bàng trên nhánh Bạch Hổ chăng? Nói thế thật khiên cưỡng, bởi ngoài phát cho nữ, nhánh Bạch Hổ còn phát cho cả con trai thứ, không thể nào kẻ trấn yểm lại bỏ sót một điều quan trọng như thế.
Tóm lại, theo NCD, đó không là một Huyệt bàng hay một điểm nằm trên Thanh Long của Huyệt trường mà chính là 1 CHI LONG thuộc 1 Đại Long vậy. Chính vì thế mà nó không ảnh hưởng nhiều đến thế cuộc của nước ta trong lịch sử, vẫn cỏn rất nhiều vị vua ra đời, trong đó không thiếu các bậc Minh Quân. Nếu đây là Long Mạch Đại Địa thì có lẽ lịch sử nước ta đã đổi khác. Do đó, theo NCD, những ai quan tâm tới Kinh Đô Thăng Long ngàn năm văn vật của chúng ta xin hãy an tâm. Việc đem các vật cho là trấn yểm Phong Thuỷ đó lên_ nếu đây đúng là trấn yểm_ theo NCD là một việc tốt, không hề có nguy hại gì. Việc xảy ra các hiện tượng lạ vào thời điểm đó, NCD sẽ giải thích ở bên dưới , chung với phần lý giải về hai vấn đề:
1/. Thành Đại La là nơi xây lên để trấn yểm Long Mạch của thành Thăng Long.
2/. Các hình tượng trấn yểm đó mang ý nghĩa gì?

Trước khi đi vào hai vấn đề hôm trước nêu ra, NCD tôi xin góp vài ý kiến về bài viết đó như sau:
1/. Cũng là người Việt nhiệt tình với quê hương, nhưng NCD tôi luôn tôn trọng sự thật, và đánh giá các vấn đề không chỉ đơn thuần trên tính mơ hồ, nghe nói hay tin hoàn toàn vào một thuyết nào đó. Chúng ta chỉ là những người hậu học, kế thừa và phát huy những gì ông cha ta đã truyền lại một cách có khoa học, hợp thời, hợp lý. Nghĩa là trong những thông tin chúng ta tiếp thu được từ các bậc tiền nhân, cũng phải suy gẫm lại, xem cái nào hợp thời, hợp lý, và xác định tính chân thật của thông tin dựa trên niên đại, bối cảnh thời đó. Theo tác giả thì thuật Phong Thuỷ và Kinh Dịch của chúng ta tiếp thu từ nền văn hóa Vua Hùng, và các Vua Hùng trước khi mất nước đã cố tình làm sai lệch về các học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Theo Tam Đoạn Luận của Socrate, thì ngay từ tiền đề tác giả đã sai làm sao bảo chứng cho những mệnh đề sau là đúng. Cái gì của chúng ta sáng tác ra mà khi bỏ nước chạy đi, nó vẫn ở trong đầu chúng ta, không thể mất đi. Thế tại sao Kinh Dịch của chúng ta tại sao cả ngàn năm sau chúng ta vẫn chưa có chữ viết? Điều này quả thật nghe rất lạ tai, nhưng thôi, cứ tạm tin là vậy. Nhưng nếu tác giả cho rằng vì các Vua Hùng cố tình làm sai lệch như vậy mà Cao Biền tính toán sai lầm về độ số thì e rằng có một sự nhầm lẫn to lớn ở đây.
Trong lịch sử nước ta, dựa theo các tư liệu lịch sử thì từ trước đến nay nước ta chưa có nhân vật kiệt xuất nào về Phong Thuỷ trước thời đại nhà LÝ cả. Chúng ta cứ tin như lời tác giả rằng quả thật vào đời các Vua Hùng, khoa Phong Thuỷ đã thịnh ở nước chúng ta đi, thì việc đó cũng chẳng ăn nhập gì với việc kiến thức Phong Thuỷ của Cao Biền cả. Xin tác giả lưu ý cho kỹ xem, khi nước ta chưa có bậc Phong Thuỷ nổi danh nào thì ở Trung Quốc thời ấy có thể kể ra rất nhiều rồi, xin liệt kê ra đây một số những người nổi tiếng đầu tiên trong giới Phong Thuỷ của Trung Quốc:
_ Đời nhà Thương đã có BÀN CANH, người xem tướng địa cho kinh đô nhà Ân, mở ra một triều đại kéo dài đến mấy trăm năm, và tạo ra nền văn hóa đồng thau rực rỡ.
_ Đời nhà Chu có CÔNG LƯU xem tướng địa định đô cho nhà Chu đến đất Bân
có CỔ CÔNG ĐÀN PHỤ tướng địa đất Kỳ Sơn
có CHU CÔNG tướng địa Kinh Đô Lạc Ấp
_ Đời Chiến Quốc có THƯ LÝ TỬ
_ Đời Tần có CHU TIÊN ĐÀO, người soạn bộ sách Sưu Sơn Ký, trước tác gần như đầu tiên về Phong Thuỷ một cách có qui mô.
_ Đời nhà Hán có THANH Ô TỬ soạn Táng Kinh...
.......
Có rất nhiều, rất nhiều nhà Phong Thuỷ của Trung Quốc xưa đã nổi danh sớm như thế, chứng tỏ khoa Phong Thuỷ của Trung Quốc có nguồn gốc căn cơ cội rễ lâu đời, thì tại sao Cao Biền phải dựa vào sách Phong Thuỷ của các Vua Hùng lưu lại để sai lầm về độ số??? Những trước tác về Phong Thuỷ của những nhà Phong Thuỷ thời đó của Trung Quốc đến nay chỉ còn lại rất ít, nhưng nó được xem như một kho tàng vô giá cho môn Khoa học huyền bí này. Cả ngàn năm nay người Trung Hoa đã ứng dụng kiến thức Phong Thuỷ lệch lạc do tổ tiên ta để lại chăng??? Hay chỉ mỗi mình Cao Biền sang An Nam học trộm thuật Phong Thuỷ để rồi làm sai lệch??? Quả thật giả thuyết ấy của tác giả đưa ra khó mà tin được bởi tính logic của sự việc. Chúng ta là người VIỆT, dòng máu Việt đang chảy trong huyết quản chúng ta, nhưng không vì thế mà chúng ta chối bỏ sự thật. Sự thật còn hơn vạn lời hùng biện mà! NCD xin đưa ra một vấn đề hỏi thử tác giả ấy xem: Nếu tác giả nghĩ rằng mình là người Việt cần có những suy nghĩ tốt cho dân tộc Việt, vậy thì: Trong lịch sử, nước chúng ta bị người phương Bắc xâm chiếm, cai trị thì chúng ta cho rằng họ ỷ mạnh hiếp yếu, cá lớn nuốt cá bé. Thế chúng ta xóa số cả một đất nước Chiêm Thành thì gọi là gì? Chúng ta lấn sang phần đất của Xiêm La thì gọi là gì? Xin thưa với tác giả bài viết rằng: Đánh giá một vấn đề thuộc phương diện lịch sử, chúng ta hãy đặt mình vào thời điểm ấy xem quan điểm của thời ấy như thế nào đã. Ngày trước, vào thời phong kiến là thời tranh giành, mạnh đước yếu thua, cá lớn nuốt cá bé là xu thế của thời ấy. Hồi đó lám gì có tổ chức Liên Hợp Quốc như bây giờ để lên tiếng nói công bằng. Trong hoàn cảnh đó, nếu ta không giết đối thủ thì sẽ bị giết thôi. Do đó việc chúng ta xóa sổ nước Chiêm Thành có thể chấp nhận được, thì việc bị người phương Bắc đôi khi đánh chiếm là điều tất yếu thôi. Qua đó chỉ càng chứng tỏ bản chất anh hùng, không chịu khất phục trước cường quyền của dân tộc ta thôi.
Trở lại vấn đề, tóm lại, NCD muốn nhấn mạnh phần thông tin về việc "cổ thư chữ Hán sai lệch về độ số". Nên chăng trả lại sự công bằng cho xuất xứ của khoa Phong Thuỷ?

2/. Vấn đề thứ hai mà NCD tôi muốn nói là vấn đề tác giả đặt giả thuyết về danh từ Kinh Đô THĂNG LONG của chúng ta. Theo tác giả thì cái tên này không phải xuất phát từ ý nghĩa "con Rồng bay lên" như trong dân gian truyền tụng, mà đó là "Khí Âm thăng lên". Tác giả còn cho rằng "Khí làm cho Kinh Đô THĂNG LONG phát triển mạnh mẽ như bây giờ là Khí Âm_Địa Khí ". Muốn làm rõ hơn ý này, NCD xin nói sơ qua về việc đặt tên trong kiến trúc Phong Thuỷ & Mạch phát triển Kinh Đô.
Trong Phong Thuỷ, các nhà Phong Thuỷ xưa khi kiến thiết lên một tòa đình lâu, một hoa viên, một cây cầu, một con đường, một ao thả cá...vv... Nói chung, tất cả kiến trúc mang tính cách tiềm ẩn ý nghĩa Phong Thuỷ, họ luôn đặt cho kiến trúc ấy một cái tên. Và việc đặt tên ấy cũng có một số qui định bất thành văn như sau:
_ Trước tiên cái tên ấy khi đọc lên phải mang một ý nghĩa tốt lành, khiến ai nghe cũng thấy thích, thấy hay_ dù có thể họ không hiểu hết ý nghĩa của cái tên ấy.
_ Thứ đến là chiết tự của cái tên ấy ra (đương nhiên theo chữ Hán phồn thể rồi) số nét phải hợp với Ngũ Hành của kiến trúc ấy.
_ Tiếp nữa là cái tên ấy tính tổng số nét của nó giải theo Dịch Lý phải có một luận đoán tốt. Cũng trên ý này mà người xưa dùng để đặt tên cho con cái, mong hậu vận của con cái được tốt đẹp.
_ Cuối cùng là cái tên ấy phải phù hợp với tầng lớp giai cấp & không phạm húy.
Trong Phong Thuỷ, khi đặt tên cho một kiến trúc, các nhà Đại Sư Phong Thuỷ phải lao tâm khổ tứ rất nhiều để tìm cái tên thích hợp.
Theo truyền thuyết cổ đại, Rồng là một động vật thần kỳ, trưởng của loài có vảy, giỏi biến hóa, làm mây làm mưa, lợi cho vạn vật. Rồng có thể đi mây về gió, thoắt ẩn thoắt hiện. Rồng là con vật khổng lồ, nhấp nhô uốn khúc như dãy núi, người ta bèn ví núi với Rồng. Do đó, trong thuật Phong Thuỷ mượn quan niệm về Rồng để chỉ ra tính Sinh động, biến hóa và nguồn năng lực mạnh mẽ của các Mạch Khí trong lòng đất. Long Mạch chính là ám chỉ Huyết Mạch của Rồng, từ này có nguồn gốc từ đây. Cũng vì những huyền thoại xung quanh con vật thần bí này, người ta tôn sùng nó (chẳng phải ngay như dân tộc ta cũng tự hào rằng mình là con Rồng cháu Tiên đó sao?), và nó được các nhà thống trị xem như biểu tượng của sức mạnh, của quyền uy tối thượng của mình. Vì thế, các vật dụng dùng cho Vua ngày xưa hay thêm vào chữ Long như: Long xa (xe của Vua đi), Long ỷ (ghế của Vua ngồi), Long sàng (giường Vua nằm ).....vv...
Qua những tản mạn quanh chuyện Rồng, ta có thể thấy vì sao có chữ Long trong tên kinh đô nước ta. Về chử Thăng, trong chữ Hán có đến 5 chữ Thăng, trong đó có 3 chữ với hàm ý "bay lên". Trong ba chữ đó, chữ Thăng 9 nét có bộ THỔ (đất đai), và chữ Thăng có 8 nét có chữ NHẬT trên chữ THĂNG là thích hợp hơn hết. Vì sao? Chữ LONG ở đây là Rồng là chữ Long có 16 nét. NCD xin trích dẫn ra đây hai bài thơ luận đoán dựa theo số nét của 2 chữ Thăng Long để các anh chị, các bạn tham khảo xem:
_ Nếu chữ Thăng có 8 nét, thì tổng cộng là 24 nét :
Cẩm tú tiền trình
Tu kháo tự lực
Đa dụng trí mưu
Năng thành đại khí
_ Nếu chữ Thăng có 9 nét thì tổng cộng là 25 nét:
Thiên thời địa lợi
Chi khiếm nhân hòa
Giảng tín tu mục
Tức khả thành công.
NCD tôi chưa biết Kinh Thành thuộc Ngũ Hành gì, chỉ xin luận về ý nghĩa, số nét chữ thôi vậy. Về số nét thì đã thích hợp rồi, và như vậy thì nó phải đi liền với hàm ý: "Con Rồng bay lên". Như ta đã biết những truyền thuyết về loài Rồng, tính của nó vốn linh động, chuyên làm mưa làm gió, nên chỉ thích hợp trên cao mặc sức vẫy vùng, không thích hợp nơi ao tù nước đọng. Rồng một khi thoát lên mây cao sẽ thỏa sức tung hoành, như vậy mới thể hiện hết Thần uy của nó, cũng như chí Quân Vương "Đại triển hùng đồ" mở mang bờ cõi. Do đó cái tên THĂNG LONG như ý nghĩa trước nay ta vẫn hiểu, là xây dựng trên cái lý thể hiện Quyền uy tối thượng của nhà Vua, thể hiện cái Hùng tâm tráng chí của cả một dân tộc luôn vươn lên cao tiến triển không ngừng, thể hiện mơ ước một đất nước vươn lên tự chủ sau thời gian dài bị đô hộ. Câu chuyện mà LÝ THÁI TỔ_ LÝ CÔNG UẨN đưa ra về giấc mơ chỉ là đánh vào tâm lý người dân sùng bái thần thánh, mê tín dị đoan. NGÀI ám thị cho người dân biết rằng: Kinh Đô này là Trời ban cho triều đại nhà Lý, mượn ý Trời để quy kết lòng dân về một mối, một chính sách làm an lòng dân, giúp người dân có thêm lòng tin để đoàn kết chống giặc mỗi khi có giặc ngoại xâm. Khi muôn triệu người dân đều tin vào câu chuyện đó, lời từ miệng người dân phát ra mang theo một từ trường, số đông người tạo thành một năng lực vô hình, 1 sóng từ mang cùng một thông điệp- cùng một tần số chuyển tải vào vũ trụ, và nhân được sự phản hồi từ vũ trụ. Bằng chứng là sau thời đại các Vua Hùng, các triều đại đều không truyền đến ba đời, nhưng khi Kinh Đô dời về Thăng Long thì lần đầu tiên nước ta thái bình thịnh thế suốt mấy trăm năm dài. Cũng trong thời đại này, nước ta đã mở mang bờ cõi dài xuống phương Nam, chiếm thêm được PHẬT THỆ (nay là địa bàn Thừa Thiên), rồi tiếp đến là 3 châu Địa lý- Ma Linh- Bố chánh (nay thuộc Quảng Bình- Quảng Trị). Tuy sau 200 năm, nhà Lý bị mất về tay nhà Trần, nhưng dân tộc ta vẫn là tự chủ. Đấy không phải là một minh chứng hùng hồn ư?
Cũng trên kế sách an lòng dân này, hơn 400 năm sau Đại Quân Sư NGUYỄN TRÃI của chúng ta đã dùng mỡ viết lên lá cây hai câu "LÊ LỢI vi Quân, NGUYỄN TRÃI vi Thần", kiến theo ăn mỡ đục khoét lá cây làm cho lá cây như có sẵn hai câu ấy. Kết quả là lòng dân tin rằng Ý Trời muốn LÊ LỢI làm Vua, lòng dân theo về, muôn người như một, nhờ vậy mà nước ta lại một lần nữa giành được độc lập.
Trở lại vấn đề đặt tên Kinh Đô là Thăng Long, chúng ta đã có thể hiểu rõ về thâm ý dựng nên câu chuyện mang tính thần thoại của LÝ THÁI TỔ, thì xin đừng vì câu chuyện hư cấu với dụng ý tốt này mà bỏ đi ý nghĩa tốt đẹp thực sự của Kinh Đô Thăng Long!
Việc tác giả cho rằng Kinh Đô Thăng Long là Mạch Âm có một sự nhầm lẫn rất lớn trong kiến thức Phong Thuỷ. Trong Phong Thuỷ quả thật có Mạch Dương, Mạch Âm đấy, nhưng hiểu như tác giả là có một sai biệt rất rõ. Mạch đi trên vùng núi non là Mạch Âm vì đi chìm xuống sâu, Mạch đi dưới đồng bằng là Mạch Dương vì nổi lên trên. Đất chôn mồ mã gọi là Mạch Âm phần. Đất xây nhà, lập doanh trại, lập Đế Đô là đất Dương cơ. Trong Phong Thuỷ có câu "Nhất Dương thắng thập Âm". Vì sao nói vậy thì trong phần trước NCD tôi đã nói. Mạch Dương thường hiện ra với khí thế bao la, có thể xuất phát từ một Tổ Sơn, nhưng khi đến nơi kết huyệt để lập Đế Đô thì đó phải là vùng đồng bằng. Khi ấy các mạch núi xa xa, sông ngòi uốn lượn trước mặt tạo nên khung cảnh hùng vỹ, một khí thế không thể thiếu của các Kinh Đô. Vào thời Vua LÊ- Chúa TRỊNH, các nhà Phong Thuỷ thời ấy đem "Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự" ra mà mổ xẻ, phân tích, đi tìm các Long Mạch mà Cao Biền đã ghi trong đó. Và thời bấy giờ đã dấy lên một làn sóng tranh cãi về các học thuyết Phong Thuỷ, và cũng sau thời điểm ấy Cụ TẢ AO được giới Phong Thuỷ nước ta tôn xưng là Ông THÁNH Địa Lý. Chính Cụ TẢ Ao đã nhận xét rằng cuộc đất THĂNG LONG là cuộc đất lớn phát về Mạch Dương.
Phải nói Kinh Đô THĂNG LONG như mở ra một trang sử mới cho dân tộc ta sau một thời gian dài bị thống trị, như kiêu hùng hơn, thịnh vượng hơn. Có lẽ cái tên mang ý nghĩa "Con Rồng bay lên" như hàng ngàn năm qua dân ta nghĩ vẫn tốt hơn, mang lại nhiều may mắn hơn cho đất nước ta vậy. Qua những dẫn chứng trên, ngoài việc chứng minh cái tên Thăng Long mang ý nghĩa ấy, NCD tôi còn muốn nhấn mạnh thêm ý nghĩ: Trước triều đại nhà LÝ, nước ta chưa có bậc Đại Sư Phong Thuỷ nào tầm cỡ như Quốc Sư VẠN HẠNH_ người đã tìm ra cuộc đất cho Kinh Đô Thăng Long của chúng ta.

Như đã nói ở phần trước, khi bàn về cái tên Kinh Đô Thăng Long, xét đến khía cạnh tốt đẹp của nước ta từ sau khi dời đô về đây, có lẽ không cần phải giải thích gì thêm chắc các anh chị, các bạn cũng thấy rõ hoàn toàn không có sự trấn yểm gì ảnh hưởng tới Kinh Thành Thăng Long cả. Bởi triều đại nhà Lý bắt đầu từ Lý Thái Tổ, cho đến đời Lý Chiêu Hoàng chuyển sang tay nhà Trần cũng có đến 218 năm. Để các quý vị không phải thắc mắc, cho rằng 218 năm vẫn là ít so với Trung Hoa, NCD xin dẫn chứng ra đây các triều đại của Trung Quốc từ sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên:
_ Đời Tây Hán: Năm 202 trước Công Nguyên, Lưu Bang lập nên triều đại nhà Hán, đến năm 8 sau Công Nguyên bị Vương Mãng lật đổ, được 210 năm.
_ Đời Đông Hán: Năm 25, Lưu Tú giành lại quyền cai trị, đến năm 220 bị Tào Phi chiếm ngôi nhà Hán, đời này chỉ kéo dài 195 năm nhưng còn tệ hại hơn, nửa đời sau, hoạn quan chuyên quyền, loạn lạc khắp nơi.
Bỏ qua thời Tam Quốc phân tranh, ta xét đời kế tiếp:
_ Đời Tây Tấn: Tư Mã Viêm lật đổ nhà Ngụy xưng Đế năm 265, nhưng tính thật ra đến năm 280 mới diệt đước Ngô thống nhất đất nước. Từ mốc 280 đến năm 316 bị Hung Nô tiêu diệt, triều đại Tây Hán chỉ được....36 năm.
_ Đời Đông Tấn: Năm 317 Tư Mã Duệ Kiến lập lại triều Tấn, gọi là Đông Tấn, đến năm 420 bị Lưu Dực giết, chỉ được 103 năm.
Kế đến là loạn Nam Bắc triều, ta bỏ qua, kế tiếp:
_ Đời Tùy: Năm 581, Dương Kiên lật đổ Bắc Chu xưng Đế, đến năm 618, Tùy Dạng Đế Dương Quảng bị giết, nhà Tùy chỉ vỏn vẹn.....37 năm
_ Đời Đường: Năm 618, Lý Uyên xưng Đế, đến năm 907, nhà Đường bị Hậu Lương tiêu diệt, được 289 năm.
_ Đời Bắc Tống: Năm 960, Triệu Khuông Dẫn xưng Đế, đến năm 1126 Bắc Tống bị Kim tiêu diệt, được 166 năm.
_ Đời Nam Tống: Tống Cao Tông lập ra Nam Tống năm 1127, đến năm 1279 bị nhà Nguyên tiêu diệt, được 152 năm.
_ Đời nhà Nguyên: Năm 1206, Thiết Mộc Chân làm Thành Cát Tư Hãn, cho đến năm 1368 thì nhà Nguyên bị tiêu diệt, được 162 năm
_ Đời nhà Minh: Chu Nguyên Chương kiến lập triều Minh năm 1368, đến năm 1644 thì bị nhà Thanh tiêu diệt, được 276 năm
_ Đời nhà Thanh: Năm 1636, Hoàng Thái Cực xưng Đế, nhưng thực tế đến năm 1644 mới chiếm trọn Trung Nguyên. Đến năm 1911, Cách Mạng Tân Hợi đã chấm dứt triều đại Phong kiến của Trung Quốc, nhà Thanh được 267 năm.

Như vậy, ta thấy rất rõ hiệu quả tốt từ việc dời đô về Kinh Thành Thăng Long, triều đại nhà Lý tồn tại một thời gian rất dài so với đa số triều đại của Trung Quốc. Trên thế giới ngày nay, không chỉ riêng Châu Á chúng ta, mà đến cả các nước Âu, Mỹ cũng đã xác nhận tính khoa học của thuật Phong Thuỷ, và đa số đều ngầm xem Trung Quốc là cái nôi phát nguồn của thuật Phong Thuỷ. Thế thì ở một đất nước mà thuật Phong Thuỷ đã đạt đến trình độ tạo được tiếng tăm trên thế giới, mà các triều đại Vua chúa của họ đa số không kéo dài bằng triều đại nhà Lý nước ta, vậy thử hỏi Kinh Thành Thăng Long của chúng ta như vậy là Phong Thuỷ tốt hay xấu đây? Có lẽ câu hỏi này tự trong thâm tâm của tất cả quý vị đã có câu trả lời rồi vậy.
Như vậy thông tin việc Cao Biền xây thành Đại La để trấn yểm Long Mạch vùng Hà Nội là thế nào? Điều này có hai cách giải thích:
_ Một là, việc Cao Biền xây thành Đại La để trấn yểm Long Mạch ở Hà Nội chỉ là truyền thuyết. Nhưng giả thuyết này ít có khả năng. Vì sao? Bởi qua hiệu quả tốt của Kinh Thành như chúng ta đã thấy thì Long Mạch phát Dương vùng Thăng Long không thể nào Cao Biền bỏ qua. Cho nên, mới dẫn đến ý thứ hai sau đây.
_ Hai là, Cao Biền có trấn yểm thật, nhưng khi xây dựng Kinh Thành Thăng Long, các Đại Sư Phong Thuỷ nước ta thời ấy_ mà dẫn đầu là Quốc Sư Vạn Hạnh, người có công tìm ra Long Mạch cho đất Thăng Long_ đã hóa giải đi rồi.

Tóm lại, theo NCD tôi, thì việc trấn yểm gì đó hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến Kinh Thành Thăng Long của chúng ta cả. Xin quý vị nào có lòng yêu mến Kinh Đô ngàn năm văn hiến hãy an tâm gác chân lên trán mà ăn no ngủ kỹ, à quên, gác tay lên trán chứ
Đến đây sẽ có người hỏi gai gốc "thế thì Phong Thuỷ bảo các đất Kinh Đô phát dương quang đại cả ngàn năm, sao mới vài trăm năm đã thay triều hoán vị? Như thế không phải là Phong Thuỷ không đáng tin sao?". Đây là một câu hỏi rất thú vị, mà nhiều lần bạn bè, thân chủ của NCD hỏi, và NCD chỉ kể cho họ nghe một câu chuyện có thật trên đất nước Việt Nam mình, mà tình cờ NCD xem được. Câu chuyện như sau:
"Vào đầu thế kỷ 20, có nhà họ LỤC, cất cái quán nhỏ giửa đèo Cù Mông, ngay trên Quốc lộ số I, chuyên bán nước cho khách bộ hành. Quán ấy mặt quay về biển Đông, lưng dựa vào vách núi bên kia, phía Bắc là một vực sâu thăm thẳm.... Khách uống nước trả tiền hoặc không cũng được, nhưng trong mỗi bát nước ông chủ bỏ vào đó năm ba hạt trấu (vỏ lúa). Nhiều người lấy làm lạ hỏi, nhưng ông chỉ cười và không mấy khi trả lời. Một hôm, có một thầy địa lỳ người Quảng Ngãi dừng chân uống nước nơi ấy. Qua một lúc quan sát địa thế, thầy địa lý gọi ông chủ quán họ LỤC nói:
_ Đây mới thực là cảnh phát quan, phát phú, ít nhất cũng ba đời. Mặt trước là đỉnh núi nhỏ che mặt biển, đáng gọi là Tiền Án. Mặt sau hình như Ngọa Long, Phục Hổ, lại có một ngòi nước nhỏ chảy qua. Chỉ tiếc là bên hông trái quán này lại bị hố sâu làm cho cuộc đất bị hỏng mất, thật đáng tiếc....
Lão chủ quán chỉ cười mà không nói gì. Thầy địa lý lại hỏi tiếp:
_ Ông chủ quán cứ mỗi bát nước lại bỏ năm ba vỏ trấu làm cho khàch uống nước nhờn nhợn... Tại sao ông phải làm chuyện đó?
Ông chủ quán cười, nói:
_ Thường khách qua đường rất khát, gặp nước thì uống một hơi, tôi sợ họ bị nghẹn nước nên bỏ vào một chút trấu để họ uống chậm lại thôi.
Thầy địa lý gật đầu rồi bỏ đi.
Mười năm sau, thầy địa lý ghé lại quán đó, thấy lão chủ quán họ LỤc vẫn tiếp tục bán nước, nhưng lạ thay, cái hố sâu kia bấy giờ đã được thiên nhiên tự vun đất lên cao bằng mặt. Thầy địa lý cầm tay ông chủ quán nói:
_ Trong ba năm nữa ông sẽ hưởng được lợi của cuộc đất phát này.
Đến nay, người cháu nội ông cụ họ LỤC ấy vẫn còn nức tiếng giàu sang trong vùng đó."

Theo phongthuyquan.com ('http://phongthuyquan.com/diendan/index.php?topic=264.0')


Được sửa bởi Admin ngày Wed Mar 07, 2012 10:39 am; sửa lần 1.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
Admin
Admin


Tổng số bài gửi: 179
Join date: 29/02/2012

Bài gửiTiêu đề: Thánh vật ở sông Tô Lịch - Part 5   Wed Mar 07, 2012 10:39 am


Cho hay muôn sự ở đời không qua cái ĐỨC, chính cái TÂM của ông chủ quán THIỆN lương nên đã khiến xui thiên nhiên đãi ngộ cho ông vậy. Hành động bỏ vỏ trấu của ông vào bát nước thật đúng với câu nói của ông bà xưa răn dạy:
Vật vị THIỆN tiểu nhi bất tác
Vật vị ÁC tiểu nhi bất hành

Nghĩa là: Chớ thấy việc THIỆN nhỏ mà không làm; chớ thấy điều ÁC nhỏ mà làm.

Khi đã xác định việc đó không có ảnh hưởng gì tới Kinh Thành của chúng ta, thì việc tìm hiểu các vật trấn yểm này chỉ trên tính cách cùng nhau nghiên cứu thôi. Bởi hai nguyên do:
_ Một là, NCD tôi chưa thấy được hình chụp hiện trạng các vật mà tác giả cho rằng là vật trấn yểm Phong Thuỷ gì đó, hay ít ra cũng là một sự mô tả chi tiết về cách sắp xếp của các vật ấy lúc còn nguyên trạng.
_ Hai là, bản thân NCD không phải là một người sinh ra, lớn lên hay làm việc trên đất Bắc, nên về địa hình địa lý gì của miền Bắc NCD cũng không nắm rõ. Phải biết các Mạch núi ở ngoài ấy tập trung khu vực nào, hướng chiều nào, phát nguyên của Sơn Long ở đâu? của Thủy Long ở đâu? của Sa Long ở đâu?.... Còn rất nhiều điều chưa biết, nên rất khó đoán định được mục tiêu của người trấn yểm kia là nhằm vào việc gì.
Dù không nắm rõ mục tiêu kia, nhưng chắc chắn vẫn không ảnh hưởng tới Thủ Đô Hà Nội của chúng ta rồi. Và cũng có thể do cái tâm của kẻ trấn yểm kia không tốt, muốn hủy đi Linh Khí của Thiên Địa nên khiến xui chỉ trấn nhằm những Mạch nhỏ thôi cũng không chừng? Bởi như Cụ TẢ AO đã dạy:
Đức Nhân vốn ở cả mình
Trước là tích Đức sau là Tầm Long.
Hay như sách "Hồng Vũ Cấm Thư" của Dương Quân Tùng đời Đường cũng viết : "Tiên tích Đức nhi hậu Tầm Long".
Học cao, được truyền thụ chân thư chưa đủ, kẻ muốn làm một nhà Địa lý còn phải có Đức, có Nhân. Vì bước vào con đường Địa lý là bước vào con đường hành Đạo, phải luyện Nhân Nghĩa trước đã. Khi một kẻ đã có tâm trấn yểm các Long Mạch tốt, thì bản thân kẻ ấy cũng khó tìm ra các Đại Long Mạch mà trấn yểm, nếu có chăng thì cũng khiến xui có sự sai lệch nào đó.
Trở lại với vấn đề nơi "bị trấn yểm" đó, do chưa đủ lượng thông tin cần thiết để đoán định sự việc, NCD tôi xin chỉ đưa ra một giả thuyết về cách mà người đó dùng để trấn yểm. Muốn bàn về các vật trấn yểm đó, trước tiên NCD tôi xin nói sơ qua về khoa Chiêm Tinh dựa trên năm tháng ngày giờ. Bởi giả thuyết này của NCD tôi_ dựa trên lượng thông tin của bài viết kia_ có liên quan đến khoa này vậy.
Như đã nói ở các phần trước, Sơn hà đại địa bao la vạn tượng, Long Mạch nhiều vô số nhưng đúng thực sự là Chân Long thì rất hiếm, mà cuộc đất Chân Long Đại Địa càng hiếm hơn. Tìm được Huyệt địa rồi, Phân kim, Lập hướng rồi, còn một điều tối quan trọng không kém đó là chọn năm tháng ngày giờ thật chính xác để an táng, hay khởi công động Thổ. Khi chọn ngày giờ sai lệch, không những không được phước mà còn lập tức chuốc họa vào thân ngay. Trong các sách Phong Thuỷ ngày nay, gần như ít khi đề cập đến vấn đề này, có lẽ các thầy (xin đừng nói lái lại nhé!) giữ lại làm yếu quyết riêng, cũng có thể chính các thầy ấy cũng xem qua loa, không đánh giá đúng mức sự nguy hiểm của việc chọn sai ngày giờ. Thời gian sau này, NCD thấy có một vài cuốn sách theo trường phái Huyền Không Học, là có nhắc đến việc ảnh hưởng của năm tháng ngày giờ lên Trạch Mộ, nhưng vẫn chưa nói rõ lắm.
Khoa Chiêm Tinh này có nguồn gốc rất lâu đời, không biết ở các xứ Âu, Mỹ thế nào, riêng ở Á Đông ta thì nó đã xuất hiện khoảng 4000 năm trước Công Nguyên. Nhưng lúc ấy, các nhà chiêm tinh xem thiên văn chỉ dừng ở mức áp dụng vào Nông nghiệp thôi. Các nhà chiêm tinh dựa trên sự vận chuyển của các vì sao trên Trời mà đoán định mọi việc. Vũ trụ vần xoay, tinh tú luân chuyển đã tác động đến con người, đến đất đai. Các nhà khoa học ngày nay cũng đã chứng minh được mỗi một tinh tú trong Thái Dương Hệ đều có sự tác động, ảnh hưởng lên hệ sinh thái trên Trái Đất chúng ta. Tỷ những ngày trăng tròn thường ảnh hưởng đến hệ thần kinh con người (nhất là các người mắc bệnh này), hay tác động đến chu kỳ rụng trứng của phụ nữ, hoặc là tác động đến Thủy triều.... Mỗi khi các tinh tú xoay đi nơi khác thì lực tương tác giửa chúng với nhau, giửa chúng với Trái Đất, giửa chúng với mọi sinh vật trên Trái Đất cũng khác đi, và chúng theo một qui luật nhất định. Thế mà, các nhà Phong Thuỷ từ ngàn năm trước đã nhận ra những chu kỳ họa phúc của con người, của các hình thế đất đai do sự thay đổi của các vì sao ấy. Dựa trên những kinh nghiệm thực tế nhìn thấy, họ đã đưa ra những luận cứ về chọn năm tháng ngày giờ cho từng công việc, sao cho thích hợp với Vận khí của từng người, từng hình thể đất đai. Trên đà phát triển đó, tương truyền vào đời Tấn, Quách Phác đã đưa ra thuyết Cổ Dịch Huyền Không Học cho môn Địa lý, nhưng chưa thịnh lắm. Rồi đến Dương Quân Tùng đời Đường; Ngô Cảnh Loan đời Tống (là con trai của Ngô Khắc Thành_ học trò của Trần Đoàn lão tổ); Tưởng Đại Hồng cuối đời Minh. Nhưng mãi đến cuối đời Thanh mới được Thẩm Trúc Nhưng tiên sinh phát dương quang đại khoa này, và lan truyền rộng ra công chúng. Phải nói rộng thêm một tý về trường phái này, chính vì NCD tôi muốn chỉ ra rằng: ngoài vấn đề Đức độ, trên lĩnh vực Phong Thuỷ, chỉ có phái này mới giải thích nổi sự vượng suy, thành bại cũng của một khu đất, một ngôi nhà, một triều đại....
Theo trường phái Huyền Không Học, tất cả nhà cửa, mộ phần lập sơn định hướng, cho dù có được Vượng Sơn, Vượng Hướng, hay Thượng Sơn Hạ Thủy....vv... gì đi nữa thì cũng có giới hạn của nó (các điều cơ bản về phái Huyền Không Học này, NCD tôi sẽ lần lượt trình bày trong phần Phong Thuỷ học sau). Khi thời hạn đó qua đi, tác dụng đó sẽ hết, dù tốt hay xấu cũng thế. Tồi đa của 1 cặp Sơn Hướng đối nhau đó là 180 năm.
Thí dụ: Nhâm sơn Bính hướng tối đa vượng được 80 năm, Bính sơn Nhâm hướng tối đa vượng được 100 năm, cộng lại cho cặp đối nhau này là 180 năm là thế.
Khoa Huyền Không Học gọi đây là Địa Vận Tam Nguyên nhỏ (mỗi một Nguyên là 60 năm). Nhưng nếu: Địa mạch kéo dài liên miên bất tận, khí thế bao la hùng vỹ, trong 8 cung có đủ hai cung Thành Môn hợp cách hai bên tả hữu, lại là toàn cục hợp Thiên Tâm Thập Đạo, thì Địa Vận của nó có thể kéo dài đến 540 năm hoặc 1080 năm. Phái Huyền Không Học gọi đây là Địa Vận Tam Nguyên lớn.
Cũng theo gốc Chiêm tinh này, nhiều môn học thuật khác cũng chịu ảnh hưởng, như: Bốc số, Dịch lý, Y lý, Vu thuật và Kỳ Môn Thuật Số.
Khoa bốc số tức là bói toán, dựa trên năm tháng ngày giờ sinh của con người mà lập Tử vi; dựa trên năm tháng ngày giờ sinh mà cân xương tính số (NCD tôi sẽ gởi một bài chuyên về vấn đề này vào một dịp khác)....
Khoa Dịch Lý thì dựa trên năm tháng ngày giờ để gieo quẻ, xem các hào động biến, sinh khắc ,xem các lục thân biến đổi, phi phục thần thế nào....vv.. Nhưng ngày nay, các nhà Dịch học còn tiến một bước dài hơn các tiền nhân, khi họ đã vận dụng được PHÉP DỊCH. Thuật ngữ này nghe có vẻ lạ tai, nhưng hiểu được & vận dụng được thì đúng là PHÉP thật đấy! Dụng PHÉP DỊCH, người ta như có quyền năng siêu nhiên vậy (đề tài này sẽ có dịp NCD tôi trở lại sau trong box KHHB )
Trong y lý, Tây y không biết nghĩ sao, nhưng với Đông y, có một số huyệt được coi là TỬ HUYỆT nhưng không cố định chỗ mà lại chạy theo giờ, người ta gọi đấy là Nhâm Thần Thời Huyệt. Và thường thì các huyệt này rất hiếm người tìm được. Vốn nó bắt nguồn từ việc các võ sư xưa luyện phép Thiết Bố Sam, đao gươm bất xâm, nhưng luôn tồn tại một Tử Huyệt không thể lấp được. Dần dần, các bậc võ sư thượng thừa tím cách khắc phục, thân thể gần như Kim Cương bất hoại vậy. Nhưng họ không biết ngay từ ngàn xưa đã có Bí pháp tìm Tử huyệt theo giờ kia. Do Bí pháp này rất nguy hiểm, nên nó ít được truyền thụ ra, dần dà đã thất truyền là vì vậy.
Vu thuật là trường phái của những cô cậu đồng cốt, những pháp sư phù thủy thời xưa. Họ lựa chọn năm tháng ngày giờ tốt để lập đàn làm phép sai Thần khiến Quỷ. Các loại trấn yểm tà thuật cũng thuộc trường phái này. Một Bí pháp trong phép tàng hình của Vu thuật ghi lại thế này: Lấy hai mắt của con chó mực phơi trong bóng mát cho thật khô. Dùng bùa họa trên mắt chó liên tục trong 21 đêm. May một túi lụa bỏ vào. Muốn vào nhà ai hãy lấy đễ vào tay, hướng về phía cửa nhà người đó niệm chú, khi đến gần sẽ không ai phát hiện ra (?!). Cũng may là chữ bùa kia không được lan truyền ra rộng rãi, nếu không NCD tôi không tưởng tượng nổi sẽ xảy ra sự việc gì nữa? Đó là một việc không biết thực hư đúng sai, NCD tôi không dám phê phán, có một việc mà NCD tôi từng làm được, và tôi nghĩ ai cũng có thể làm được. Đó là Phép Lỗ Ban chữa Hóc Xương tôi đã đăng trong bài Mẹo vặt. Cái này thì bản thân NCD chịu, không thể giải thích theo Khoa học nổi rồi, có quý vị nào giải thích được xin cho ý kiến vậy.
Bởi nói đến việc trấn yểm không thể không bàn đến một khía cạnh của khoa Vu Thuật này, đó là các Bùa Chú. Đấy là các hình vẽ ngoằn ngoèo mang tính tượng hình (thí dụ như một loại Bùa thanh tâm an thần của ngày xưa bao gồm 5 vòng xoắn theo chiều kim đồng hồ, rồi 5 vòng theo chiều ngược lại, và kết thúc bằng một nét ngoéo lại. Chính là lấy hình tượng các vòng Dương, Âm và Thái Cực vậy). Còn các câu chú chúng ta nghe thấy trúc trắc nhưng đó chỉ là những câu Kinh nhà Phật thôi, phái này thì lấy theo tiếng Phạn, phái kia thì lấy theo tiếng Bali, phái nọ thì theo tiếng Hán như chúng ta vẫn đọc kinh.... Ngày xưa các thầy Phong Thuỷ buộc phải biết qua các bùa chú này, bởi trong thuật Phong Thuỷ xưa có một số Pháp môn thượng thừa_ mà ngày nay chỉ còn truyền miệng kể nhau nghe thôi_ phải dùng đến bùa chú mới được. Các Pháp môn thất truyền này có rất nhiều điều gần như siêu nhiên vậy, chẳng hạn :
_ Dẫn Long nhập thể: Người thầy dùng Bùa chú trục Long Khí nơi Long Mạch chuyển thẳng vào một mộ huyệt nào đó.
_ Di ảnh hóan hình đại pháp: Dùng trong các trường hợp đối đầu Phong Thuỷ giửa hai thầy địa lý, dùng để che mắt đối phương cách cục mà mình bố trí vậy.
_ Dẫn Long thăng thiên đại pháp: Đây là một cách rất ác, bởi nó thường làm cho cả một vùng đất trở nên khô cằn vì....Long đã thoát đi!
_ Đẩu chuyển tinh di: Dùng trong trường hợp các thầy địa lý muốn hoán đổi vận mạng cho một người, hay thay triều đổi vận. Cách này thường khó thành bởi được coi là Nghịch Thiên hành sự (Thuận Thiên giả tồn, Nghịch Thiên giả vong). Chỉ thành khi sự việc đó là tất yếu phải xảy ra, và người thầy đó chỉ thúc đẩy nó đi nhanh hơn thôi (nước đang ròng mà bạn muốn lớn có chăng là phép Tiên?!)
...Còn rất nhiều Pháp môn nay đã thất truyền, và các phép này chỉ các bậc Đại Sư Phong Thuỷ thượng thừa mới làm nổi.
Cuối cùng là NCD tôi muốn nhắc đến Kỳ Môn Độn Giáp. Môn này có lịch sử rất lâu đời, và Phong Hậu được xem là thủy tổ của môn tượng số Trung Hoa. Ông ta là một vị tướng tài đã làm ra 12 thiên binh pháp, 12 quyển Cô Hư lập thành Độn Giáp. Đến đời Chu có Khương Tử Nha_ người giúp nhà Chu dựng nên cơ nghiệp mấy trăm năm. Ông thấu hiểu binh pháp, uyên thâm về Dịch Lý, làm ra sách về Kỳ Môn. Đến đời nhà Hán có Trương Lương, được Xích Tòng Tử truyền cho Bộ Thái Ất và binh thư, nhờ vậy mà giúp nhà Hán gầy dựng cơ nghiệp cũng mấy trăm năm. Đời Tam Quốc phân tranh, có Gia Cát Lượng, ai đã từng xem qua bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa ắt khó quên vị quân sư tài ba này. Ông là người ứng dụng thành công nhất Thái Ất & Kỳ Môn Độn Giáp, binh thơ đồ trận trong thời ấy (sẽ có người thắc mắc ông thấu hiểu môn này vì sao không giúp Lưu Bị thành công được? Xin thưa trước khi ra khỏi thảo lư thì Khổng Minh đã biết trước thế cuộc thiên hạ, nhưng vì cảm cái tình của Lưu Bị "tam cố thảo lư" mà ông ra giúp thôi. Thế mới biết cái tình của người xưa trong đạo xử thế đáng quý làm sao!). Ở nước ta, người đầu tiên áp dụng Thái Ất Kỳ Môn thành công và để lại tiếng tăm đến ngày nay có lẽ không ai qua Cụ Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM. Ông gần như được xem là nhà bác học đa tài của lịch sử cận đại Việt Nam. Ông nổi tiếng không chỉ vào kiến thức uyên bác mà còn nhờ vào những bài Sấm Tiên Tri_ mà người đời quen gọi là Sấm Trạng Trình .
Trong các giai thoại về ông , NCD còn nhớ lúc đi học được nghe các thầy cô truyền lại rằng: Trịnh Kiểm là con rễ của Nguyễn Kim, đã soán ngôi ông. Nguyễn Hoàng là con trai của Nguyễn Kim, sợ bị Trịnh kiểm hại mình, nghe tiếng cụ Trạng Trình nên đến xin vấn kế. Nghe trình bày xong, Cụ không nói một lời, chỉ chấm tay vào chung trà viết lên bàn mấy chữ, rồi chắp tay sau lưng bỏ vào nhà trong. Tò mò, Nguyễn Hoàng đến xem chỉ thấy câu "Hoành Sơn nhất đáy van đại dung thân". Nguyễn Hoàng về xin Trịnh Kiểm cho mình vào Nam, nơi dãy Hoành Sơn như Cụ ngầm ám chỉ. Thuở ấy, nơi đó còn rất hoang vu, nên Trịnh Kiểm đã đồng ý ngay. Và đúng như Cụ đã tiên liệu được, vùng đất ấy sau khi Nguyễn Hoàng vào khai phá đã trở nên trù phú, dân cư ngày một đông, quả nhiên là chốn dung thân, kiến cơ lập nghiệp vậy.
Một giai thoại nữa về Cụ: Tương truyền vào năm 1930, khi làng của Cụ Trạng Trình bị Pháp ném bom (do nghi rằng Việt Nam Quốc Dân Đảng lập căn cứ ở đấy), khi làng bị tàn phá thì tự nhiên bật lên tấm bia có bài Sấm ký :
Canh niên tàn phá
Tuất Hợi phục sinh.
Nhị ngũ dư bình
Dựa theo Kỳ Môn Độn Giáp, Cụ đã tính ra được gần 300 năm sau làng mình bị tàn phá dữ dội. Vì năm 1930 là năm Canh Ngọ, ứng với câu đầu. Đến năm Tuất Hợi mới khả dĩ hồi phục, nhưng phải đến 10 năm sau (nhị ngũ) mới bình thường lại như xưa.

Thế vì sao gọi là Thái Ất Kỳ Môn Độn Giáp? trong khoa này có 3 kỳ: Can ẤT làm Nhật kỳ_ Can BÍNH làm Nguyệt kỳ_ Can ĐINH làm Tinh kỳ. Phép Thái Ất là lấy Can ẤT thay thế Can GIÁP làm đầu cho Thiên Can. GIÁP thường ẩn tránh (ĐỘN là trốn, là ẩn tránh vậy) ở dưới Lục Nghi, cho nên gọi là Độn Giáp. Vì sao Giáp phải thường ẩn trốn?
Theo khoa này, Giáp đứng đầu Thiên Can, làm chủ tể. Mà Giáp là Dương Mộc, nó rất sợ Canh là Dương Kim khắc nó. Ất là Âm Mộc, đứng liền sau Giáp, tượng như em gái của Giáp vậy. Cho nên Giáp đem em gái gả cho Canh Kim, xem như để giải oán cừu, và ta cũng thấy Ất và Canh là Thiên Can ngũ hợp đấy. Vì vậy ẤT thay Giáp làm kỳ thứ I vậy!
Bính thuộc Dương Hỏa, trong Ngũ Hành Hỏa nhờ Mộc sanh nên Bính tượng như con trai của Giáp vậy. Bính Hỏa khắc được Canh Kim cứu Giáp nên BÍNH làm kỳ thứ II vậy!
Đinh thuộc Âm Hỏa, cũng nhờ Mộc sanh ra, nên tượng như con gái của Giáp vậy. Đinh Hỏa cũng khắc Canh Kim, nên ĐINH làm kỳ thứ III vậy!
Vì lẽ ấy Can GIÁP lánh đi trong Lục Nghi để cho Can ẤT thay thế, như ông Vua giao quyền cho Tể Tướng vậy. Như nước ta, phần đông nhớ đến Đức HƯNG ĐẠO VƯƠNG mà mấy ai biết ông sống vào thời Vua Trần Nhân Tôn vậy!
Thái Ất Kỳ Môn là dùng năm tháng ngày giờ để lập ra một phương trình thức. Từ phương trình thức đó mà người ta áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau: hành binh, bắt trộm, ngoại giao thương thuyết, địa lý, bói toán, xem thời tiết, xem mưu sự...vv....và cao hơn hết chính là hai pháp môn :
_ Dùng Kỳ Môn để sai khiến Lục Đinh, Lục Giáp chư thần
_ Dùng Kỳ Môn phổ vào trận thế.
Muốn tìm một công thức của Quẻ Kỳ Môn người ta phải biết được lúc ấy ở vào Hội nào, Vận nào, Tiết nào; rồi năm thuộc tuần Giáp gì, năm nào, tháng nào,... Theo khoa này thì Trời mở ra ở Hội Tý, Đất mở ra ở Hội Sửu, Người sinh ra ở Hội Dần. Mỗi một Hội có 10800 năm, chia làm 30 vận, mỗi vận 360 năm, lại chia làm 12 thế; mỗi thế 30 năm....Từ Hội Tý khởi đi, đến nay ta đang ở Hội NGỌ _ Hội Ngọ được tính từ năm -2196 đến năm +8604.
Mỗi Hội có 30 vận, tính ra ta đang ở vận thứ 12 vậy..... Cứ thế, lấy năm tháng ngày giờ trong giai đoạn ấy theo công thức sẵn có gia Trực Phù (là các sao: Thiên Bồng, Thiên Nhuế, Thiên Xung, Thiên Phụ, Thiên Cầm, Thiên Tâm, Thiên Trụ, Thiên Nhậm, Thiên Anh); gia Trực Sử ( là các Cửa Bát Môn: Hưu, Sanh, Thương, Đỗ, Kiển, Tử, Kinh, Khai); rồi lại thêm các sao như: Thanh Long, Minh Đường, Thiên Hình, Chu Tước, Kim Quỹ, Thiên Đức, Bạch Hổ, Ngọc Đường, Thiên Lao, Huyền Vũ, Tư Mệnh, Câu Trần. Hay Bát Thần: Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Câu Trần, Chu Tước, Cửu Thiên, Cửu Địa.... Nói chung rất nhiều, cực kỳ phức tạp. Lập thành xong mới luận đoán.
Trong Kỳ Môn, sau khi lập thành, người ta căn cứ vào Trực Phù, Trực Sử gia vào địa bàn nào, độ số Kỳ Môn bao nhiêu để luận đoán. Do Trực Phù là các sao, nên nó là cái Linh Khí đang hợp ở lúc đó. Trong môn Độn Giáp, nói về các sao thuộc về Thiên thể, tức là những quang tuyến vũ trụ ảnh hưởng trong lúc đó cho muôn sự vật. Nó tương tự như một ý tưởng của nhà kiến trúc vậy, đòi hỏi phải hợp thời mới được.
Ví dụ như Sao Thiên Xung vượng ở tiết Lập Xuân, được vậy thì tinh thần sáng rỡ, muôn việc đều thịnh vượng. Nhưng nếu nó lại gia vào cung Thất Đoài, tức là Thiên Xung / 7 là phương trình thức, thì Thiên Xung thuộc Mộc bị trên địa bàn Đoài Kim khắc và xung thì ắt ở nơi không thích hợp, và còn bị nguy hại, tổn hao nữa vậy.
Còn Trực Sử, nghĩa trực tiếp là thẳng đến sai khiến. Trong môn Độn Giáp, dùng các cửa Hưu, Sanh, thương... để quyết cái hình trạng thiết thực trong cõi hữu hình. Tỷ như nó là người thợ xây, là người thực hiện các ý tưởng của nhà thiết kế vậy. Quan hệ qua lại của chúng có thể ví như sau: Trực Phù là một hạt giống cây đại thụ, nếu cái hạt giống ấy gieo hợp thời vụ, gặp chỗ đất thích hợp thì cây dần lớn lên, có ngành có ngọn, có hoa có quả. Thân to, hoa thơm, quả lớn là nhờ ở cái khí hậu nơi cây trồng, nơi đất bồi bổ. Đó chính là ảnh hưởng của Trực Sử vậy. Nhân tốt thì Quả lành!
Nói đến cái ứng dụng của Kỳ Môn Độn Giáp thì rất nhiều, nếu quý vị nào có xem qua Tam quốc diễn nghĩa, chắc hẳn còn nhớ trận Lũng Tây, Gia Cát Lượng đã dụng Kỳ Môn Độn Giáp khiến quân Tư Mã Ý không cách nào đuổi kịp. Về việc này, trong Kỳ Môn có dạy: Nếu muốn trốn tránh thì lúc còn ở trong nhà, bắt đầu một vòng theo hướng trên phương vị có sao Thanh Long mà đi, qua sao Minh Đường, rồi ra Thiên Môn, vào cung Địa Hộ, hướng về Thái Âm, đến Hoa Cái. Nếu xuất hành thì nhanh như chớp, không ai theo kịp. Nói đến thuật khinh thân này, nếu quý vị nào không tin có thể tìm xem tác phẩm "Tây Tạng huyền bí" của dịch giả Nguyên Phong. Trong cuốn sách ấy kể lại những câu chuyện có thật, của một đoàn Khoa Học Gia của Hoàng Gia Anh khi họ đến tìm hiểu xứ Tây Tạng.Các nhà ẩn sĩ ấy như có phép thuật huyền bí vậy. Nói thế, không phải NCD có ý khuyên quý vị đi tu đâu nhé ( đời còn nhiều việc vui lắm mà!), chỉ để quý vị thấy rằng các phép khinh công, phi thân mà trong độn giáp nói là có thực, quan trọng là ta có biết cách ứng dụng không thôi.
Do đó mà nói, Kỳ Môn Độn Giáp thật sự là thiên biến vạn hóa, ứng dụng được trong rất nhiều lĩnh vực, nhất là trong các trận đồ ngày xưa_ chi phái lập trận theo Kỳ Môn này theo NCD được biết hiện còn tại VN, trong một ngôi chùa ở Thất Sơn Châu Đốc. Những ai đã từng nghiên cứu qua các loại hình trận đồ thì ắt biết các trận thế Trường Xà, Tứ Tượng.... Nhưng áp dụng Kỳ Môn vào trận thế thường là những trận Chính phản ngũ hành, Bát Quái... Khi áp dụng giờ Kỳ Môn vào trận thì bên ngoài trận thế vẫn bình thường, nhưng khi vào trong rồi thì cảnh vật biến đổi, hễ ta tịnh thì cảnh tịnh, hễ ta động thì cảnh động theo. Trong trận sẽ phát sinh ảo giác khiến những ai bị giam trong đó khó mà thoát ra, nếu không am hiểu Kỳ Môn. Bởi có tính theo Kỳ Môn mới biết hướng nào cửa Sanh mà ra, tuy nhiên còn tùy theo giờ nữa. Tỷ như Sanh môn vốn thuộc cung Chấn Mộc, nay gia vào Đoài tất thất hãm, đã vào hãm địa tất không thể đi vậy, phải chờ đến giờ khác mới xung phá ra.
Nói chi ly cả buổi, thật ra NCD chỉ muốn nói đến chỗ này đấy quý vị ạ! Theo lời mô tả của tác giả bài viết và lời kể lại của ông Cường, thì ở đấy có đến 7-8 cọc gỗ, một tấm ván màu vàng có hình Bát Quái ở giửa, 1 số xương voi, xương ngựa...vv.. gi nữa đó. Bản thân NCD cũng chỉ là một người hậu học, chỉ xin đưa ra chút thiển ý của mình , cũng mong các bậc cao nhân, tiền bối nào có kinh nghiệm hơn trong lĩnh vực này góp ý thêm cho.

Theo thiển ý của NCD thì cũng tán đồng cách nói của một số tiền bối đã từng nhận xét về việc này: Đây là một trận đồ Bát Môn có ứng dụng Kỳ Môn Độn Giáp. Về mục đích thật sự của việc "trấn yểm" này là gì thì NCD chưa thể khẳng định chính xác, nhưng chắc chắn đây là một trận pháp có uy lực rất lớn. Còn nhốt cái gì thì, có thể là một con Rồng (bởi theo các nhà Phong Thuỷ xưa thì mỗi một Long Mạch có một con Rồng tồn tại?!), có thể là những oan hồn gì đó.... Vì sao NCD tôi nghĩ trận pháp này có uy lực rất mạnh? Cũng có lý do của nó. Một khi lập trận theo Kỳ Môn Độn Giáp thì uy lực của trận đã tăng lên rất nhiều lần. Nhưng không bằng khi các cửa trận bị khóa hẳn. Chữ "KHÓA" ở đây của NCD không phải là trận không có Sinh Môn, nhưng cả 8 cửa đều được vị Pháp Sư dùng phép, bùa chú thỉnh người trấn giử hết. Người trấn giữ nếu trong thời gian ngắn có thể thỉnh thị các Thần Linh, các vị Chiến sĩ Anh Hùng Dân Tộc, các Thiên binh Thiên tướng gì đó... tùy theo năng lực của vị Pháp sư đó cao hay thấp vậy. Nhưng dễ hơn hết, và tác dụng dùng dài lâu được chính là cách dùng các oan hồn hay nói như một số người gọi đó là các Âm Binh. Qua lời mô tả của tác giả bải viết, NCD nghĩ rằng:
_ Một là các xác chết kia, trước khi chết đã bị vị Pháp sư bắt uống một loại bùa.
_ Hai là sau khi chết bị vị Pháp sư kia dán bùa lên trán.
nói chung, trong cả hai trường hợp đều nhằm để bắt linh hồn họ phục tùng, làm nô lệ cho vị Pháp sư sai khiến vậy. Và dĩ nhiên, trong trường hợp này, vị Pháp sư kia đã sai khiến linh hồn họ trấn giử 8 cửa trận. Khi có thêm tám cái oan hồn này trấn giữ thì trận càng khó phá giải thập phần, bởi các oan hồn này khi ấy vừa có thêm đạo bùa của vị Pháp sư vừa được sự linh diệu của Kỳ Môn trận thế, như tăng thêm sức mạnh gấp trăm lần. Để khuyến dụ các linh hồn ấy, các vị Pháp sư đã táng thêm các vật dụng, các tiện nghi cho các oan hồn sử dụng. Vô hình trung, nơi ấy đã trở thành "nhà" của những oan hồn ấy vậy. Muốn giải điều này, trước tiên phải là một thầy thật giỏi, đủ sức lập đàn trục những oan hồn nọ đi, nếu bản lĩnh vị thầy không đủ sai khiến các oan hồn thì chẳng khác nào chọc họ nổi giận thêm thôi. Cũng như nhà quý vị đang ở mà có ai tới đập phá, quý vị có để yên không. Không chỉ thế, người lập đàn tràng đó phải là người tinh thông Kỳ Môn Trận Pháp, biết tính giờ nào thì trận sẽ yếu nhất, có như vậy mới đủ sức triệt tiêu trận này. Cũng may là lúc trục các cây cột gỗ đó lên nhằm ban ngày, đang lúc Dương Khí thịnh vượng, nên mới dễ dàng vậy. Khi không còn nơi trú ngụ, đương nhiên các oan hồn đó trút sự giận dữ lên những ai mà họ cho rằng đã phá nơi cư trú của họ thôi.
Giả thuyết như đấy là nhánh của của Long Mạch, ảnh hưởng tới Kinh Thành Thăng Long, tức là người trấn yểm kia có ý ngăn chận một nhánh Long Mạch thì cũng có thể. Nhưng nói đấy là Long Mạch ảnh hưởng đến Kinh Thành Thăng Long thì quả thật không có cơ sở. Trước khi chúng ta gỡ bỏ vật "trấn yểm" kia thì nước ta vẫn độc lập suốt hơn 20 năm đấy thôi. Thế Trung Hoa có bị ai trấn yểm mà phải chịu bị Nhật xâm chiếm? Phải chịu sự áp đặt của liên quân 8 nước? Bị ai trấn yểm mà Vua PHổ Nghi gần như bị lưu đày xa xứ? Khi xét đến các vấn đề mang tính cách tế nhị này, chúng ta hãy có cái nhìn khách quan hơn. Nói rằng đất nước ta từ sau khi phá bỏ vật trấn yểm đó thì tiến triển hẳn, thật rất oan cho sự nổ lực không ngừng của nhân dân cả nước. NCD nói thật tình, theo NCD nhận thấy đây là xu thế tất yếu, của thời cuộc thôi. Việc thành bại, vượng suy không chỉ căn cứ vào một vấn đề Phong Thuỷ là đủ. Xin hãy nhớ cho rằng ĐỊA chỉ chiếm 1/3 trong quan hệ Tam tài của vũ trụ. Ngoài Địa lợi còn Thiên thời, còn Nhân hòa nữa. Việc Kinh Thành vượng suy không chỉ có Long Mạch là đủ, khoan nói đền Thiên và Nhân, chỉ chữ Địa thôi, còn rất nhiều yếu tố khác nữa mà do phạm vi bài viết có hạn, NCD tôi không thể một lúc nói ra hết được.
Có người cho rằng do Long Mạch này bị trấn yểm mà các vị lãnh tụ có chí hướng đều đoản mạng. Cái gì cũng có lý do cả. Đinh Bộ Lĩnh, Ngô Quyền, Lý Nam Đế đều ở thời trước khi có Kinh Thành Thăng Long lại ít tư liệu nào về những người ấy, nên chúng ta tạm gác qua vậy. Nói đến Vua Quang Trung là phải nói đến thế đất ở Bình Định, mà thời Cao BIền thì làm gì lãnh thổ ta kéo dài đến đấy?! Vả lại, đất phát Đế Vương Bình Định là đất bạo phát bạo tàn, thế đất như hình ngàn quân ra trận, hiên ngang hùng vỹ nên mới phát võ tướng. Trong phần trên, NCD tôi cũng đã nói rồi, đất vùng núi non tuy phát quý nhưng rất dễ phạm Hung Sát, phải chọn mạch thật kỹ mới hóa giải được sự hung sát của nó. Thêm vào đó, tên Quang Trung khi chiết tự cũng mang ý nghĩ tài năng quán chúng nhưng yểu chiết. Quả thật còn rất nhiều điều mà do không muốn đi lạc ra khỏi chủ đề quá xa nên NCD tôi mới không nói ra thôi. Vào thời Lý, Lý Thường Kiệt từng đánh chiếm cả hai tỉnh lưỡng Quảng. Đến thời Tây Sơn, Vua Quang Trung lập lại lịch sử một lần nữa. Đâu phải nước ta chỉ biết thần phục? Chẳng qua chính sách người Việt Nam ta lấy Đức phục Nhân thôi! Trong các triều đại của Trung Quốc, có triều đại nào mà yên ổn suốt cả thời gian nắm quyền không? Một nước lớn như Trung Quốc mà còn không làm nổi thì một quốc gia nhỏ như Việt Nam ta có chút trở ngại thế thì có sá gì? Tận nhân lực tri thiên mệnh! Khi chúng ta không tận lực thì không phải của trên trời đổ xuống sẵn đâu, bạn thấy tôi nói đúng không? Khi cho chúng ta một vận hội tốt thì cũng phải có sự thử thách xứng đáng chứ? Do đó, thế cuộc đất nước phát triển là điều ta có thể đoán trước được, trên đà phát triển từ sau khi có chính sách mở cửa, có điều sự việc diễn tiến nhanh chậm thôi. Nước đang ròng sát, NCD cho mười ông thầy giỏi địa lý cũng không thể làm nước vun lên được nữa là, giỏi lắm thì họ đắp đập ngăn nước, nhưng chỉ đước một tý thôi. Phong Thuỷ dựa trên cơ sở Dịch Lý, mà Dịch Lý là phải hợp lý, không thể rập khuôn, không thể cưỡng cầu được. Phong Thuỷ dựa trên Dịch Lý nên cũng không thoát khỏi cái ý này. Cái gì cũng phải hợp lý trước đã. Nếu không xét cái Lý thì sao người ta không dùng Phong Thuỷ trấn yễm để bên Trung Đông hết chiến tranh đi? Như nước Mỹ có ai trấn yểm mà cũng bị sự kiện 9-11? Nước Mỹ bị ai trấn yểm mà hiện nay đang trên đà đi xuống, hàng năm thâm hụt ngân sách hàng trăm tỷ đô la? LÝ của Dịch mà, Dương lên tới cực điểm thì xuống Âm, nhưng thực ra hai sự việc diễn ra cùng lúc đấy. Khi Dương trưởng lên thì trong đó đã có cái mầm của sự hư hại vậy, chẳng qua chưa tới lúc thôi. Thôi, việc phát triển của Kinh Thành là cả một đề tài dài, 1-2 lời không thể nói hết, bởi còn nhiều việc bên trong nữa, chúng ta chỉ dừng ở đây vậy. Bởi khi đưa ra đề tài này chúng ta chỉ dựa trên mục tiêu là xem có bị ảnh hưởng gì tới kinh Thành không thôi.
Hiện nay, sự việc qua đã lâu, chúng ta cũng thấy rõ không còn vấn đế gì nữa, có thể xảy ra hai khả năng_ nhưng cả hai đều không nguy hại gì (có tức giận gì thì cũng một lúc thôi chứ!)
_ Một là các linh hồn đó vẫn tiếp tục lưu ngụ ở đó, cơn giận đã nguôi ngoai mà.
_ Hai là các linh hồn đó sau khi bị trục đi đã tản mác, và trước khi đi đã trả thù vị pháp sư nào đã đuổi họ ra khỏi đó. Lúc có đàn tràng thì có các vật trấn, có bùa chú sai khiến, các linh hồn ấy không thể trái ý, nhưng bình thường thì khác à? Trừ phi vị ấy là một người giỏi về phép Lỗ Ban thì tôi không nói, còn bình thường thì ai cũng như ai thôi.
Còn vấn đề nếu đó là một Long Mạch thì sự giải bỏ cấm chế chỉ có lợi chứ làm sao có hại được? Có khác chăng đôi chút trong phần lý do ảnh hưởng thôi. Nếu đó là Long Mạch thì do bị dồn nén lâu ngày, khi tháo ra Khí sẽ tuôn ra ào ạt. Mà Khí ở đây là gì? Là các tuyến lực ngầm đan xen trong lòng đất, chúng có từ trường riêng của chúng. Khi các vật trấn yểm kia ở đó lâu như vậy đương nhiên bị nhiễm sóng từ của nó thôi. Khi phá bỏ cấm chế, Khí ồ ạt tuôn ra, tỏa ra một sóng từ với cường độ lớn, lẽ đương nhiên những người có liên quan nơi đó sẽ bị ảnh hưởng rồi. Người nhà họ thì do lực cộng hưởng của tính di truyền mà phải gánh nạn theo thôi.
Giá như NCD biết sự việc sớm hơn, NCD không đủ sức làm gì rồi, nhưng có thể giới thiệu một địa chỉ chắc chắn đủ sức hóa giải nạn kiếp cho những người liên quan, một vị xuất thân từ trường phái Kỳ Môn Độn Giáp, lại tinh thông Dịch Lý cùng rất nhiều Pháp môn bí ẩn.
Tóm lại, mọi việc đều đã khép lại, có chăng là chúng ta đưa ra để mổ xẻ vấn đề, rút kinh nghiệm khi gặp trường hợp tương tự thôi. NCD cũng xin thành thật gởi đến ông Cường lời chia buồn cho sự mất mát, tổn thất của ông vậy.

Theo phongthuyquan.com ('http://phongthuyquan.com/diendan/index.php?topic=264.0')
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://the-sight.forumvi.com
 

Thánh vật ở sông Tô Lịch

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
THE SIGHT :: -